Lời phật dạy

Hai Mươi Điều Khó Làm Trong Cuộc Sống 
01. Nghèo nàn bố thí là khó. 02. Giàu sang học đạo là khó. 03. Bỏ thân mạng quyết chết là khó. 04. Thấy được kinh Phật là khó. 05. Sanh vào thời có Phật là khó. 06. Nhẫn...
Bảy Điều Khuyên Nhắc Người Thế Gian 
Một khuyên người đời siêng làm thiện, tích đức kết duyên phước vẹn toàn Hai khuyên người đời luôn ghi nhớ, xưa nay trăm thiện hiếu đầu tiên Ba khuyên người đời chớ tham tiền, mưu tính...
Lời Phật dạy 6 
...Hỡi này các Tỳ Khưu, ngày nào mà tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn pháp thánh đế, dưới ba sắc thái và mười hai phương thức chưa được hoàn toàn sáng tỏ thì, cho đến chừng ấy, Như...

Nghệ thuật kiến trúc

CHÙA GIÁC LÂM, DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA 

Để có nhận thức đầy đủ về ngôi chùa cổ đã từng tồn tại gần 300 năm qua, thấy được phần nào những đường nét mỹ thuật thể hiện qua kiến trúc, bao lam, hoành phi, tượng tròn, liễn đối… qua đó có thể thấy rõ được đặt điểm của ngôi chùa dưới khía cạnh lịch sử và văn hóa đã làm cho chùa Giác Lâm trở thành một ngôi chùa mang tính tiêu biểu cho chùa ở Nam bộ, cần tìm hiểu qua về những lĩnh vực nêu trên.

I. KIẾN TRÚC CHÙA THÁP

Trên ngọn đồi thấp, ẩn mình trong những vòm cây, ngôi chùa như một chấm sáng khi đứng nhìn từ nơi chợ búa rộn ràng phía dưới xa, tuy xa cách mà vẫn nhưu gần gũi, ngôi chùa vẫn giữ được sự thanh tịnh cần thiết.

Theo năm tháng,tuy cảnh quan ngôi chùa có phần biến đổi, nhưng cho đến nay, vẫn giữ lại các khu vực chính: Khu tháp Ngũ gia tông phái, khu vực vườn chùa, khu vực tháp cổ và khu vực chùa chính.

1) Khu vực tháp ngũ gia tông phái (phía trước chùa).

Đây là khu vực tương đối thấp nhất, được xem như là một dạng của “Minh đường, thủy tụ”. buổi đầu lập chùa, khu vực này tiếp giáp với ao sen, có nhà thuỷ tạ trên ao, ngày sóc vọng thi nhân đến ngắm cảnh, ngâm vịnh… năm 1968, một số cư dân các vùng khác đến quận Tân Bình lánh nạn chiến tranh đã lấn chiếm khá nhiều diện tích thuộc khu vực này để cất nhà ở, làm xí nghiệp… khu vực phía trước chùa vào nắm 1923 bị xẻ làm đường, mang tên đường làng số 12, đã làm khu đất chùa bị chia cắt làm đôi. Sau đó đường làng này trở thành đường Lạc Long Quân  ngày nay.

Năm 1970, Hòa thượng  Thiện Thuận đã hiến một mẫu đất tại đây để xây dựng tháp “ngũ gia tông phái”, đặt thờ Xá Lợi Phật  và bài vị chư tổ Phật  giáo.

phải đến năm 1992, hơn 80 hộ tạm cư mới dần được giải tỏa và sau năm 1994 tháp được hoàn thành.

2)Khu vực vườn chùa.

 

Vườn chùa Giác Lâm trước kia khá rộng, theo lời kể lại của các vị Tổ trước đây, và căn cứ vào tờ cải chánh ruộng còn lưu lại tại chùa, vào những ngày đầu lập chùa khu vực vườn chùa chiếm diện tích lớn. Phần bên trái chùa, từ ngoài vào chính điện đã lan rộng đến đường Âu Cơ ngày nay. Khu vực này là bãi đất được xếp vào loại ruộng hạng ba gồm ba mảnh ruộng chính :

Thửa thứ nhất :

Thuộc số kinh lý 172                1 mẫu 46 sào 40

Thửa thứ hai :

Thuộc số kinh lý 171                0 mẫu 31 sào 20

Thửa thứ ba :

Thuộc số kinh lý 77                  1 mẫu 70 sào 40

Đó là căn cứ vào tờ cải chính ruộng của thiền sư Hồng Hưng, lập vào năm 1923, cho biết số thực đo của ba thửa ruộng thuộc chùa, chiếm tất cả là 3 mẫu 48 sào và tổng giá trị lúc đó là 1.000 (một ngàn đồng).

Năm 1963 Hòa thượng Thiện Thuận cũng cho đo đạt lại ranh giới hiện trạng lúc bấy giờ là hai sở đất trống thuộc phía đông chùa còn lại là 1 mẫu 77 sào 60 (xem bản đồ đính kèm ở phần phụ lục)

Như vậy khu vực vườn chùa vào giai đoạn đầu thành lập chùa Giác Lâm đã có gần 4 mẫu ruộng. Số ruộng thuộc chùa này ắt hẳn đã là nguồn lợi kinh tế giúp cho các Tu sĩ lao động sản xuất lương thực và tạo kinh phí thêm vào việc ăn ở đi lại, học tập tại chùa.

Buổi đầu chùa không có cổng tam quan và hàng rào. Ngôi chùa như hòa vào thiên nhiên trải rộng của đồng bằng Nam Bộ. Theo lời kể lại của các vị Tổ cho biết chỉ có lũy tre xanh ngoài vườn chùa, bên cạnh các loại cây ăn quả trồng xen nhau như cây lê-ki-ma, nhãn, xoài, vú sữa… Một khoảnh đất nhỏ phía trước trồng rau xanh, góp vào những bửa cơm chay cho các Tu sĩ trong chùa. Ngoài ra, lẫn vào đám cỏ dại um tùm mọc lan tràn quanh năm là loại dây leo mà đặt biệt nhất là dây giác. Phải chăng ngoài ý nghĩa cao siêu của tên gọi “Giác Lâm” là rừng Giác ngộ thì còn một nghĩa khác, cụ thể và nôm na hơn là một rừng dây giác bao quanh đây khi vị Thiền sư đầu tiên là Viên Quang về trụ trì đã gợi ý thêm cho Thiền sư trong việc quyết định đổi tên chùa Cẩm Đệm.

Ngoài ra còn hai loại dây leo phổ biến tại đây mà các tu sĩ trong chùa thường gọi là dây trứng vịt, dây trứng gà.

Trước giai đoạn trụ trì của Hòa thượng Hồng Hưng, chùa có đào hai giếng nước hai bên hong chùa. Sau khi lấp giếng, Hòa thượng trồng thuốc hút và cất am nhỏ cho Hòa thượng tại đây. Khu vực phía bên kia đường Lạc Long Quân trước khi xẻ đường cũng thuộc chùa và là khu nghĩa trang cho Phật tử. trước năm 1989, tại khu vực ao sen phía trước chùa cũng còn 18 ngôi mộ tháp; sau đó được cải táng tập thể. hiện nay chỉ còn hai ngôi tháp cổ.

3)khu vực tháp Từ Vân và Tháp Tổ.


Bên phải từ ngoài vào chùa là khu tháp mộ của tu sĩ các nơi có nguyên vọng được chôn tại chùa Giác Lâm. Khu tháp mang tên Từ Vân (tên một Hòa thượng có tháp trong khu vực này). Có tất cả 33 mộ tháp, đều được xây từ sau năm 1900.

Khu vực Tháp Tổ là khu tháp chính của chùa. Đây là nơi  đặt hài cốt của tất cả các vị đã trụ trì tại chùa Giác Lâm. cạnh đó còn có miếu thờ Linh Sơn Thánh Mẫu.

4)khu vực chùa chính.

Đây là khu vực được dùng để xây dựng chùa. Theo bản hồ sơ di tích thì thuộc khu vực I. ngăn cách vườn chùa bởi hai lớp rào bao quanh, ngôi chùa nằm trong khuôn viên chữ nhật rộng 22m, dài 65m. phía trước chùa  có cổng Nhị Quan được xây d75ng vào giai đoạn 1939-1945.

 Hai lớp rào này được  xây dựng từ những năm 1900-1909. trước chính điện có sân rộng, hình vuông, cạnh 16m, cao hơn mặt đất 1m, nền sân tráng xi măng. Ngăn cách giữa cộng nhị quan và sân này là cội bồ đề được đại đức Narada mang từ Sri-lan-ka. cạnh cây bồ đề đặt tượng Quan Âm Nam Hải.

phần phụ bao quanh chùa gồm còn có: phương đình và dãy nhà để xe dọc theo hông chùa; nhà kho nằm góc phải chùa, dùng chứa đồ cũ và thọ dưỡng sinh. trước đây gần nữa thế kỷ, đó là tăng phòng; nhà bếp là dãy nhà ngang rộng, cuối trái góc chùa, một phần nhà bếp được sửa lại làm nhà cốt.

Phần chùa chính bao gồm 3 nếp nhà nối nhau, có cấu trúc mặt bằng dạng chữ “tam” theo thứ tự từ trước ra sau gồm: chính điện, nhà tổ, nhà trai, nhà giảng.

  1. CHÙA

1.Kiến trúc bao quanh vườn chùa.

CỔNG NHỊ QUAN


         Nét đặc sắc trong kiến trúc chùa, từ ngoài nhìn vào cổng nhị quan, được dựng lên vào năm 1939. từ trước, chùa không có cổng tam quan, do đó cổng nhị quan được xem như là cổng chính của chùa. cổng được dựng len theo phong cách đặt biệt, độc đáo, có lẽ là cổng đặt biệt nhất so với các chùa Nam Bộ, cũnh như cả nước.

vị trí cổng nhị quan được đặt trước chùa, ngay lối vào sân chùa và chính điện, nếu tính theo trục thẳng từ ngoài vào. cổng khá cao, thiết kế ảnh hưởng nhiều của kiến trúc phương tây, nhưng cũng có nhiều yếu tố văn hóa khác. Hai cổng sắt hai bên có lối đi hẹp, được ngăn cách bởi một tấm bình phong bằng gạch xây ở giữa khoảng gần 6m chiều cao. Bình phong có chân đế trang trí dạng chân quỳ tiếp nối với bức chắn bằng gạch chơn không có hoa văn. đầu tiên là dòng chữ hán kgắc theo chiều ngang: “bảo trụ thần phan” ở mât trước. nối với phần này là dạng kiến trúc tựa như mái che, hai bên có hai sư tử ngồi dạng chầu hầu. tầng trên có một bức bình phong có kích thước nhỏ hơn, trang trí đầu rắn Naga cách điệu phía trên hai sư tử. bức bình phong này có mặt trước khắc dọc hàng chữ hán: “Ô Quang thái tử”, phía sau bình phong cũng khắc chữ hán: “Ô Minh thái tử”. trên bình phong là mái nhò có đặt một bình bằng sứ. khoảng cách giữa hai cổng và bình phong là hàng rào có song chắn. toàn bộ cổng Nhị quan nổi bật lên nền xanh um tùm của cội bồ đề phía sau.

Để thấy hết giá trị và ý nghiã lịch sử-văn hóa của cổng nhị quan này cần tìm hiểu về những hàng chữ hán, cũnh như chức năng của cổng này, nơi mà hàng năm, vào mỗi 30 tết, vị trụ trì đã đích thân ra cổng dán hàng chữ hán: “thien hạ thái bình, nhân dân an lạc”, “thượng phương vĩnh thịnh, quốc thái dân an”.

Tam quan là cổng vào các ngôi chùa, thường được thiết kế dạng có 3 lối vào thể hiện: không quan, trung quan, và giả quan trong giáo lý Phật giáo. cổng nhị quan tại chùa Giác Lâm được xây dựng, bỏ đi  phần trung quan, tức phần cửu ô giữa. thông thường đây là lối vào chính, quan trọng, phải là hững ngày đại lễ mới mở; phải là những người quan trọng đặt biệt mới đi vào chùa bằng lối này. Nay thiết kế cổng vào hai bên, chắn lại phần cửa chính, điều đó thể hiện một sự phản kháng đặt biệt. đó là sự phản kháng lại áp bức, nô dịch dân tộc dưới thời Pháp, mà cụ thể là những “ quan tây” đã đến chùa, không có cổng chính để vào, bắt buộc phải đi bằng lối nhỏ hẹp hai bên !

sự phản kháng còn thâm thuý hơn khi tìm hiểu hàng loạt chữ hán được chạm khắc trên bức bình phong “lá chắn” này. “Ô Quang thái tử” và “Ô Minh thái tử”, vì sao lại khắc như vậy? Ô Minh và Ô Quang có thể được hiểu như một biểu tượng nói về trời, vì là sự kết hợp của đen (ô) = bóng tối và Minh quang = ánh sáng;cũng là sự thể hiện của ngày và đêm để chỉ THIÊN (trời) Thái tử là biểu hiện của con trời. như vậy “Ô Quang thái tử” và “Ô Minh thái tử” đều đồng nghĩa như thiên tử ( tức con trời). bình phong cao, nền chữ Hán là nền đỏ, khắc chữ vàng nổi bật, đây là cửa cấm, ý nói cả con trời cũng không được đi bằng lối giữa này, nữa là…

Điều đặt biệt tế nhị và sâu sắc là sự phản kháng “êm dịu” này đã dựa vào phong tục quán với kiêng kị trong tín ngưỡng dân gian “không trổ cửa chính vào thẳng nhà” (vì cho rằng quỷ thần thường đi theo đường thẳng) và bình phong lá chắn đó để trừ khử tà ma.

Phủ nhận, phản kháng áp bức dân tộc bằng hình tượngcổng Nhị quan (cổng đã được xây dựng vào năm 1939) cũng đồng thời nhằm khẳng định tinh thần dân tộc. Tinh thần đó được bày tỏ qua sự xắp xếp có chủ ý của kiến trúc và hoa văn trên bình phong và cả trên những chữ Hán, tượng trưng cho một sự khẳng định tuyệt đối (?) “Bảo trụ thần quan”. Đây là con sư tử chầu hầu, hoa văn chữ Vạn, hoa sen, lá đề… là những nét thể hiện của văn hóa Ấn Độ. Kia là đầu rắn Naga cách điệu là dấu ấn của văn hóa Khmer, rồi những hàng cột trụ vuông, chân cổng dạng chân quỳ… là nét độc đáo của trang trí Tây phương bên cạnh những dòng chữ Hán. Những yếu tố biểu trưng đó là những lớp văn hóa mà trong quá trình giao lưu (bằng hòa bình và bằng cả bạo lưc) dân tộc Việt Nam đã tổng hợp tiếp thu. Nhưng cuối cùng dân tộc ta đã biết giữ lại bản sắc, dân tộc tính của mình, với biểu trưng là chiếc bình gốm sứ, được tạo tác tại Sông Bé. Biểu tượng này đã được đặt lên cao nhất, vượt lên trên các yếu tố, các luồng văn hóa được thể hiện nơi các tầng dưới.

Trụ báo này (Bảo trụ thần phan) là nơi trụ cột biểu tượng cho hồn dân tộc Việt Nam nên chính vì vậy, hằng năm, vào ngày giao hòa giữa cái cũ và cái mới, giao hòa của trời và đất, vị trụ trì - người cao tuổi và có uy tín nhất trong chùa - đã tìm đến đây, dán vào vách bình phong này, niềm mơ ước của chư Tăng trong chùa, mà cũng chính là khát vọng của dân tộc Việt Nam - một dân tộc vốn đã chịu đựng quá nhiều tình cảnh chiến tranh, loạn lạc - để cầu mong “thiên hạ thái bình” và “nhân dân an lạc”!

Ngoài ý nghĩa là biểu tượng của sự phản kháng, áp bức dân tộc, và sự khẳng định dân tộc tính, cổng nhị quan của chùa giác lâm còn là sự thể hiện tinh thần nhập thế của phật giáo nam bộ. Ý thức của chư tăng về sự dung hợp giữa đạo và đời, giữa chân đế và tục đế. Cổng nhị quan chùa giác lâm đã được xây dựng vào giai đoạn không ít Tu sĩ trẻ trong chùa đã “cởi áo cà sa khoác áo chiến bào”.

CỔNG TAM QUAN


      Tam quan chùa Giác Lâm được xây dựng vào năm 1955, gồm 3 lối vào. Mỗi cổng đều có mái che, lợp ngói các đầu đao gắn hoa văn trang trí, diềm mái lá đề màu xanh thẫm nổi bật lên cạnh hàng ngói đỏ. Tam quan tượng trưng cho không quan, giả quan, trung quan và có ý nghĩa của  tam giải thoát ấn, tam pháp ấn (không, vô tướng, vô nguyện). Trên cổng giữa khắc 3 chữ hán : “Giác Lâm  tự”, hai bên chạm hai câu đối:

“GIÁC hộ quảng khai từ thiện đồng lai quy hướng TỔ

LÂM tuyền phổ nhuận ngộ mê cộng hưởng tuệ vi ĐÌNH”

(Tạm dịch : Cửa giác ngộ mở rộng, người hành thiện và người hành từ cùng đều hướng về các tổ

chốn lâm tuyền tưới khắp, người giác ngộ và người mê cùng hưởng sáng suốt của nhà chùa ) [ Huệ Chí dịch ]

Giác hộ thênh thang đón khách thiện từ về hướng Tổ

Lâm tuyền tĩnh tịch đưa người mê ngộ tới vi đình

(Tín Phủ dịch )

Hai cấu đối có chữ đầu và chữ cuối hợp lại là “TỔ ĐÌNH GIÁC LÂM”.

MIẾU LINH SƠN THÁNH MẪU

Miếu Linh Sơn Thánh Mẫu nằm trong khuôn viên chùa Giác Lâm, bên phải từ chùa nhìn vào.

Hiện nay chưa rõ miếu được thành lập năm nào ? Theo lời kể, trước đây miếu là một ngôi nhà nhỏ lợp lá, sau này, khi tái thiết và trùng tu chùa, miếu được sửa sang lại, diện tích được nới rộng thêm phía trước.

Miếu được sửa lại vào năm 1969. ngoài bàn thờ chính trong miếu đặt thờ linh sơn Thánh mẫu, còn thờ năm bà Ngũ hành, bà Chúa Tiên, Chúa Ngọc và Quan Âm. Tất cả tượng đều bằng gỗ. Mặt bàn thờ lát đá trắng có cẩn dĩa kiểu. Sau bàn thờ, trên tường vẽ cảnh mây, rồng, núi… làm nền. Hai bên cửa ra vào có hai câu đối.

Gian ngoài thờ Quan Thánh Đế Quân và cô, cậu… bên trái đặt một chuông lớn do bà Nguyễn Thị Có hiến cúng vào năm 1971.

Trước miếu là hệ thông hành lang bao bọc, mái miếu cũng được trang trí “Lưỡng long chầu nguyệt” và được lợp ngói đỏ. Đây là một ngôi miếu tương đối lớn về kích thước và phong phú về các vị nữ thần được thờ phụng. Mặc dù tên gọi chính là thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, nhưng qua hệ thống tượng thờ có thế thấy miếu tập trung đa số nữ thần hiện đang được thờ tự ở Nam Bộ. Phần nào qua kiến trúc, miếu cũng cho thấy có ảnh hưởng cấu trúc phương tây với nền miếu cao, bậc tam cấp, hành lang bao quanh…

Linh Sơn Thánh Mẫu là một vị thần xuất xứ từ núi Bà Đen (Tây Ninh). Do sự linh ứng trong việc giúp dân được no cơm ấm áo và hổ trợ trong việc giữ gìn an bình cho khu vực, dân chúng tin tưởng và xem bà như là vị thần thành hoàng. Sau này tín ngưỡng thờ bà lan rộng khắp miền Đông và Tây Nam Bộ. Người ta còn thờ bà để học tập đức hạnh chung thủy, đoan trang của bà, nên phong bà là vị Thánh Mẫu.

2.Kiến trúc chùa chính

Chùa có cấu trúc mặt bằng hình chữ “tam”. Theo nhiều nhà nghiên cứu, cấu trúc này là sự biến thể từ dạng cấu trúc “Nội công ngoại quốc”. Đây là sự kế thừa của khá nhiều chùa cổ ở miền Bắc. Sườn nhà cũng cho thấy có sự kết hợp của loại nhà rườn ở miền Bắc và sườn nhà đâm chính cột kê ở miền Trung.

Chính điện: Có hành lang phía trước, hai bên tả hữu là hồi lang bao bọc kiến trúc gian này gần như vuông, chia làm 5 gian, kết cấu sườn máy kiểu tứ tượng (tứ trụ); và tỏa ra thành 8 phần máy dạng bát quái. Mái được kết hợp dạng 4 mái nhọn dần phía trên, còn gọi là mái dạng hình bánh ít. Mỗi đầu kèo ở hàng tư chùa đều tạc dạng đầu rồng. trính đẻo lục giác. Mái lợp ngói máng xối (âm dương). Hàng cột hai bên tả hữu chính điện được thay bằng lớp tường dày 30cm. Khi Hòa thượng Viên Quang mới về trụ trì, có lẽ chính điện chùa chỉ có ba gian vách ván, mặt bằng hình chữ nhật. Tuy chưa đủ tư liệu về kiến trúc chùa vào năm 1744, nhưng căn cứ vào lời kể lại : “cột kèo của phần chính điện cũ đã được sử dụng vào việc xây nhà giảng giáo lý” đã cho ta phần nào hình dung lại kết cấu sườn mái gian chính điện trước khi trùng tu, kiểu giả thủ, một trong những kết cấu sườn mái phổ biến ở miền Trung, trong các chùa cổ.

Bên cạnh sự kế thừa kiểu nhà “đâm trính, cột kê” của miền Trung, chùa Giác Lâm đã có sự biến đổi đôi chút, như chỉ làm cột kê đá xanh ở những nơi tiếp xúc với mưa nhiều như hàng hiên chùa, các nơi khác, nếu có thì cột đá kê cũng rất thấp.

Bên trong chính điện có nhiều bao lam, hoành phi, liễn đối sơn son thếp vàng, chạm trổ công phu, với nhiều đề tài, thể loại khác nhau. Mỗi hiện vật được tạo vào giai đoạn khác nhau.

Sau lưng chính điện (bàn thờ chính) là bàn thờ Tổ; treo ảnh các vị Tổ từ thế hệ 33 đến 41, các bài vị, bát… được đặt rất trang trọng. đặt biệt tại bàn Tổ còn đặt bài vị của người Minh Hương đã đứng ra dựng chùa.

Nhà trai: trước kia, đây là gian dùng làm giảng đường. đó là phần tiếp nối gian chính điện. Đặc biệt hai bên phải và trái của gian này được nối kéo dài thành hai dãy Tăng phòng. Nơi đây đặt hai dãy bàn theo chiều dọc thờ Phật tử quá vãng, có ảnh và bài vị. ngoài ra,tại đây còn đặt ba dãy  bàn dài dùng làm tiếp khách, đãi ăm vào các ngày lễ lớn, bàn chư tăng dùng cơm mỗi ngày, còn gọi là quả đường. Dầu bàn chư tăng thọ thực là bàn Chuẩn Đề. Đây là bàn thờ được dời từ nơi thờ các Tổ xuống nhà trai thời Hòa thượng Hồng Hưng. Gian nhà trai cũng đặt hai bàn thờ, bên trên lưu giữ lại một số tượng cổ thuộc chùa, trước kia đã được đặt tại ngôi chính điện cũ.

tại gian này hiện vẫn còn bài vị của một số dòng họ lớn, người Minh Hương như bài vị dòng họ Quách Đàm, người đã đứng ra xây dựng chợ Lớn vào thế kỷ XIX.

Nhà giảng: tiếp nối nhà trai, cách một sân nhỏ, hai bên có hai dãy hành lang mái ngói, dẫn xuống nhà giảng giáo lý. Đây là dãy nhà hai gian ba chái, được xây dựng từ kèo cột của chính điện cũ. sườn cũng theo kiểu “đâm trính, cột kê”, hàng cột trước của gian xây gạch nhìn ra hòn non bộ, hàng cột phía sau là tường ngăn nhiều phòng làm Tăng phòng. trước đây, khu vực này là trai đường, đặt nhiều bộ ngựa dài 5m. từ năm 1991, làm phòng học cho lớp giáo lý cơ bản đến năm 1994, lớp học được dời ra phía trước chùa, cạnh Tháp Ngũ Gia  tông phái.

trước khi đi vào việc tìm hiểu đặt điểm lịch sử và văn hóa thể hiện qua kiến trúc, có thể điểm qua vài dạng kiến trúc tháp tiêu biểu như: tháp Ngũ Gia tông phái vá Tháp Tổ.

B.THÁP

THÁP NGŨ GIA TÔNG PHÁI

Sau khi nhận được Xá Lợi Phật do ngài Narada trao tặng, giáo hội Phật giáo Lục Hòa Tang Việt Nam (sau này hợp nhất với Lục Hoà Phật tử thành Phật giáo cổ truyền, và nay thuộc giáo hội Phật giáo Việt Nam) vẫn mong ước sớm xây dựng bảo tháp để tôn trí và thờ tự. Nhưng do nhiều nguyên nhân về chiến tranh và tài chính, mãi đến tháng 2-1970 Giáo hội quyết định khởi công xây cất Tháp, Hòa thượng Thích thiện Thuận đã cúng dường một mẫu đất trước cổng Tổ Đình để xây dựng Tháp. Bảo Tháp được dự kiến đặt Xá lợi Phật và linh vị tất cả chư tôn Hòa thượng, tổ sư tiền hiền quá vãng thuộc tông phái Phật giáo, nên có tên gọi là tháp “Ngũ gia Tông phái”. Ủy ban thiết kế do Hòa thượng Thích Bích Lâm (phó viện trưởng nội vụ viện Hoằng đạo) làm chủ tịch. Lễ đặt viên đá đầu tiên xây tháp Xá lợi vào ngày 29-11-1970. Ngân sách dự trù lúc bấy giờ là 50 triệu đồng.

Đồ án xây cất tháp do kiến trúc sư Vĩnh Hoằng thiết lập ngày 3-11-1970, được sự ưng thuận của viện trưởng Thích Minh Đức và Hòa thượng Thiện Thuận.

Tháp gồm 7 tầng, lục giác, mỗi tầng đều có mái ngói,cửa vào. Đỉnh tháp hình chóp dù, giữa đỉnh là toà sen nở, trên đóa sen có bình tịnh thủy.

Công cuộc xây dựng được tiến hành đến năm 1975 thì ngưng trê. Lúc ấy tháp chỉ mới đặt được nền móng ở tầng trệt. Mãi đến ngày 17-4-1993 (26 háng 3 AL), chùa Giác Lâm mới tổ chức lễ khởi công tái thiết Bảo tháp Xá lợi, với thành phần điều hành gồm các Hòa thượng chứng minh : Hòa thượng Huệ Thành, phó pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng Bửu Ý, phó chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm phó ban trị sự Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh.

Ban tái thiết gồm các vị : Thượng tọa Thiện Nghĩa, Thượng tọa Huệ Sanh, Thượng tọa Huệ Xướng, Thượng tọa Thiện Xuân, đại đức Nhật Ấn.

Tháp Ngũ Gia Tông Phái có mặt trước quay về phía Bắc (trên thửa đất thuộc số 172 tờ 1 xã Phú Thọ Hòa) chiếm tổng diện tích 603.79m2 , tường gạch, khung, sàn, mái bê tông cốt thép, cẩn ngói. Toàn tháp cao 32,70m.

Tầng dưới cũng đặt tượng Quan Âm Nam Hải. Bên trong đặt tượng Di Đà Tam Tôn tư thế đứng cùng bức ảnh của Hòa thượng Narada. Các câu đối được khắc liền vào cột, trong đó có cặp đối :

(VIỆT địa chủng phù đồ nhân dân chủng phước

NAM thiên thùy pháp vũ thế đạo viết long)

Tầng hai tôn trí pho tượng Thích Ca Mâu Ni, tầng ba đặt tượng Dược Sư Lưu Ly Quang Phật, tầng bốn có tượng Chuẩn Đề, tầng 5 đặt Di Lặc Tôn Vương Phật, tầng 6 đặt tượng Trung Tôn Giáo Chủ và tầng cuối cùng đặt Xá lợi Phật trong tháp bằng vàng, treo trên nóc tháp, xung quanh chạm chín con rồng chầu hầu.

THÁP TỔ

“tháp” là tự dạng Hán Việt của từ Ấn Độ cổ “stupa”, còn gọi Tuý-đổ-ba, Phù đồ, Chi đề…

Niết bàn kinh quyển 41 có đề cập đến cách xây tháp: “tháp để thờ Xá Lỵ của Phật thì cất 13 tầng, tháp thờ Bích Chi Phật thì có 11 tầng, tháp của vị A La Hán thì xây 4 tầng, tháp của vị Chuyển Luân Vương thì chẳng nên xây tầng là vì vị Chuyển Luân Vương vẫn chưa thoát khỏi các mối khổ trong tam giới”.

Theo  kinh Thập nhị nhân duyên: “tháp của  Như Lai từ 8 tầng sắp lên, Bồ Tát 7 tầng, Duyên Giác 6 tầng, La hán 5 tầng, A Na Hàm 4 tầng, Tư  Đà Hàm 3 tầng, Tu đà hoàn 2 tầng, Chuyển Luân Vương 1 tầng.

Theo Kinh Trường A Hàm thì chỉ có 4 bậc sau đây được phép dựng tháp: “Phật, Bích Chi, Thinh Văn, Luân Vương”. Ngoài ra các vị tăng thường cũng được phép dựng tháp, nhưng không có mái hiên và phải dựng ở chỗ khuất tịch. Các vong nhân khác theo Phật giáo cũng được dựng tháp, nhưng nóc tháp phải bằng, không được dùng nóc tròn như tàng dù chụp xuống. Sở dĩ như thế là để phân biệt tàn cốt trong tháp là của kẻ phàm hay bậc thánh. “Và người mộ đạo khi thấy từ 2 tầng trở lên mới được làm lễ”.

Phật giáo nguyên thuỷ cũng chia ra 4 thứ tháp: tháp thờ Xá Lợi (Dhatu-stupa),tháp thờ vật dụng của đức Phật, tháp Pháp (Dhamma-Stupa); chỗ khắc những câu kinh để mọi người chiêm bái và  hành theo;tháp thờ kim thân (cốt Phật) (Uddesika-Stupa).

Khu tháp Tổ tại chùa Giác Lâm đặt thẳng hàng, từ trong ra ngoài, có tháp các tổ Viên Quang, Phật Ý, Minh Vi, Thiện Thuận, Minh Khiêm, Hồng Hưng.

THÁP TỔ VIÊN QUANG

Tháp hìng vuông, cao 4 tầng. Đây là tháp của Hòa thượng Viên Quang, vị tổ đầu tiên trụ trì chùa Giác Lâm. Tháp cao 5,50m, kiến trúc có rào bao quanh tháp.

Tháp được xây bằng đá ong bên trong, phía ngoài đắp hợp chất kết dính, gồm ô dước, vôi, đường…

Hàng rào tháp được thiết kế dạng có ba bia lớn phía sau tháp, cao 1,60m. càng ra phía trườc cửa rào tháp, chiều cao hàng rào chỉ con,60m. Hai bên lối vào tháp có hai bệ hình sóng, hai trụ vuông hai bên cao. Đầu trụ hình chóp nhọn. Phía sau hai trụ vuông lại đặt hai trụ nữa làm cho cửa vào có hẹp hơn, đầu trụ tạc hoa văn búp sen. cạnh trụ vuông dài 62cm, chân tháp cao 66cm, có đường viền, hoa văn, nhưng nay đã mờ.

Tầng 1 : có mặt tháp quay về hướng nam, bốn mặt tháp đều kín, chỉ trang chí những đường kẻ dọc ngang viền quanh mặt tháp. Bia thap dài 57cm ngang 28cm, bằng đá xanh, gắn liền vào mặt tháp. mặt bia khắc chìm hàng chữ Hán ở giữa từ trên xuống : “Lâm Tế Tông hiển Quang công lão Hòa thượng chi Tháp”. cạnh tháp 2,1m.

Tầng 2 : Các mặt tháp đều kín, cạnh nhỏ hơn tầng 1, mỗi cạnh 1,7m. Mặt tháp trang trí đơn giản khắc lõm hình chữ nhật, các góc cắt lõm.

Tầng 3 : Mặt tháp cắt lõm hình bát giác, chiều cao mỗi tầng đều giảm và cạnh nhỏ dần.

Tầng 4 mặt tháp cắt lõm hình chữ nhật.

Tất cả các góc của bốn tầng tháp đều trang trí hình hồi long.

Tháp được xây ngay sau khi Hòa thượng thị tịch, tức năm 1827. Như vậy tháp có niên đại đầu thế kỷ XIX.

Đây là ngôi tháp đầu tiên được xây dựng trong khuông viên chùa Giác Lâm, phong cách kiến trúc ảnh hưởng các ngôi tháp thời Trần, với kiến trúc vuông, bốn cạnh. Đây có thể là sự chuyển hóa từ ngôi tháp Hòa Phong-với tháp vuông bốn cửa-đến các tháp thời Trần, và khi vào vùng đất Gia Định, kiến trúc mặt tháp đã không còn nữa, chóp tháp đã ngắn, không còn dạng hình chóp dù như ở tháp Hòa Phong. Mặt khác, khi cho xây dựng những ngôi tháp bốn cạnh này những Thiền sư hẳn đã muốn nhấn mạnh đến giáo lý về Tứ Diệu đế và Tứ Vô lượng tâm trong Phật giáo.

Tháp không cao, dáng vuông bằng sắc cạnh. Đây cũng là đặc điểm trong phong cách kiến trúc tháp ở Nam Bộ, phù hợp với thiên nhiên trải rộng tại đây. Tháp tổ Viên Quang có bia đá khắc chữ Hán cho thấy yếu tố Hán vẫn còn khá đậm vào đầu thế kỷ XIX và cũng cho thấy được đặt điểm bi ký giai đoạn này là đã tránh không nêu tên húy, pháp danh, pháp hiệu nào cả; nội dung bia khá đơn giản không ghi ngày sinh và ngày viên tịch. Đây là ngôi tháp cổ nhất của Phật giáo Gia Định còn lưu lại, nên là hiện vật có giá trị thể hiện kiến trúc tháp Phật giáo đầu thế kỷ XIX

THÁP TỔ PHẬT Ý

Tháp hình vuông, cao 3 tầng, đây là tháp của Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc, vị tổ thuộc đời thứ 35, trụ trì chùa Từ Ân ở Gia Định, thuộc chi phái Lâm Tế, dòng đạo Bổn nguyên. Sau năm 1858, một số chùa ở Gia Định bị Pháp chiếm làm phòng tuyến, lô cốt, bị hư hại trong chiến tranh, trong số này có chùa Từ Ân. Năm 1932, Hòa thượng Hồng Hưng, trụ trì chùa Giác Lâm, đã cải táng tháp tổ Phật Ý về chùa Giác Lâm.

Do được đặt vào sau, nên diện tích phân bố dành cho tháp trong khu tháp Tổ khá nhỏ hẹp, và vì vậy tháp được xử lý chiều cao để vượt lên hai tháp tổ Viên Quang và Hải Tịnh, tháp cũng không có sự đồng bộ về hàng lối và kích cỡ như các tháp khác.

Tháp cao 8,58m, quanh tháp có rào bao bọc theo lối các cột trụ vuông có chóp, phân bổ đối xứng hai bên, có 6 trụ vuông mỗi bên. Giữa hai trụ là rào có song chắn, hoa văn song là dạng bình cao cổ. Phía sau tháp, hàng rào được xây thành một bia lớn cao 3m. Đầu trên bia ghi năm tạo tháp : 1928, phần dưới bia  là bài minh bằng chữ Hán, gồm 8 câu mỗi câu 5 chữ :

“Hữu nhân danh vô hiệu

Vô tướng hữu dã danh

Hữu vô danh tự tính

Vô cung danh vô tình

Hữu vô vô biệt thể

Vô hữu cung vô hình

Hữu vô như cóc hưởng

vật trước hữu vô thinh”

Tháp tổ Phật Ý có chân tháp rất cao, làm theo lối chân quỳ, kể cả chân đế là 2m. Lối vào tháp thành dạng cổng uốn cong ra ngoài (ngoài rộng, trong hẹp). các mặt tháp đều kín,  giữa có hoa văn đầu rắn Naga cách điệu. Trang trí chân tháp là phần chạm nổi xi măng lấm tấm trong ô chữ nhật. Phía trước  tháp là bia đá, không gắn liền vào tháp. Bia cao, to gần gấp đôi các bia khác trong trong khu tháp tổ, dài 87cm, ngang 40cm đặt trên bệ vuông tách rời với tháp. Chân bệ có hoa văn, bệ chân quỳ và hoa lá cuốn, đặt biệt ở các góc. cạnh bệ 102cm, phần trên hơi nhỏ hơn 96cm. Bia ghi chữ Hán “Tế thượng chính tông Phật Ý Nhạc công lão Hòa thượng chi… 1928”.

Nội dung bia còn thiếu chữ “tháp”, có lẽ vì thiếu chữ khắc (?). Mỗi tầng tháp có mái ngói dã hình óng, mõi cạnh tám hàng ngói óng ở tầng 1, tầng 2 có 7 hàng và tầng 3 có 6 hàng.

Tháp tổ Phật Ý chịu ảnh hưởng kiến trúc Phương tây là chính, với các trụ vuông của rào tháp, dạng chân quỳ của bệ và chân tháp, trang trí ximăng nổi ở chân tháp… tuy nhiên, vẫn còn đậm nét Hán qua các câu khắc trên bìa rào tháp, bia tháp. Yếu tố tôn giáo cũng được thể hiện qua cách ghi bài minh trên bia, một dạng pháp tháp; qua nội dung bài minh, qua kiến trúc vuông bốn cạnh tượng trưng Tứ Diệu đế và Tứ Vô lượng tâm trong giáo lý Phật giáo. Bầu tịnh thủy trên đỉnh tháp là nét biểu trưng trong quan niệm về tâm “không” của Phật giáo.

THÁP TỔ HẢI TỊNH.

Tháp hình vuông cao 4 tầng. Đây là tháp của tổ Hải Tịnh, húy Tiên Giác, vị Tổ thuộc đời 37 của phái Lâm Tế, dòng đạo Bổn Nguyên. Tháp cao 6,60m, kiến trúc có rào bao quanh tháp.

Tháp được xây bằng đá ong, đắp hợp chất kết dính gồm ô dước, vôi, đường.

khoảng cách từ rào đến tháp hẹp, nhưng lối vào tháp rộng, có 4 trụ vuông (mỗi bên hai trụ) 2 trụ trong và 2 trụ phía ngoài. Nối 2 trụ là khối chữ nhật, có bệ bên dưới, phía trên trang trí thành dạng cuốn thư.

Hai trụ ngoài hình vuông có chóp nhọn ở đỉnh trụ. Hai trụ phía trong đỉnh là búp sen. Chân búp cao 50cm.

Thành rào quanh tháp cao 40cm, dày, uốn tròn và hơi nhô lên 20cm. Bia được gắn liền vào tháp. Mặt bia bằng đá trắng khắc chìm dòng chữ Hán : “Lâm Tế Gia Phổ Hiển Tịnh côbf Tiên Giác chi Tháp”. Bia dài 65cm, ngang 22cm. Ngoài ra trước tháp còn xây một bệ đặt lễ vật, hình chữ nhật, dạng chân quỳ, mặt trước bệ trang trí hoa văn.

Toàn bộ hàng rào quanh tháp được nối kết bằng bia lớn phía sau tháp. Trên diềm bia có mái ngói, với 9 hàng ngói ống hoa văn dạng hồi long ở hai đầu bia và ỡ giữa. Trên cùng là vòng tròn thái cực nằm giữa các hoa văn hoa lá. Bia sau tháp rất cao (1,90m) và không ghi bài minh. Tháp tổ Hải Tịnh có chân tháp khá cao (2,20cm). Mặt tháp kín, hoa văn trang trí đơn giản, chủ yếu là các đường nét kỷ hà, khắc lõm 3cm, hình chữ nhật ở tầng 1, lục giác ở tầng 2. Mỗi góc tháp đều trang trí cá hóa long. Đỉnh tháp là bầu tịnh thuỷ.

Theo bài vị cho biết Hòa thượng Hải Tịnh viên tịch vào năm 1875. như vậy tháp được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX.

Đây là một trong hai tháp (một tháp khác của tổ Viên Quang) dược xây dựng bằng ô đước và hợp chất. kiến trúc giản đơn, ít hoa văn trang trí, nội dung bia đơn sơ, không ghi ngày sinh và tịch, nhưng toàn bộ kiến trúc tạo cho người xem một nét đẹp hài hoà,dung dị, nhưng nhuốm màu sắc Phật  giáo. với kiến trúc 4 cạnh,trang trí cá hoá long, mặt tháp kín… là những biểu hiện cho một khía cạnh Thiền học Phật giáo: “Phật tại tâm, bất chấp tướng’, “từ trần tục chuyển thành giải thoát” (cá hoá long). nội dung bia cũng nêu lên một phong cách viết của thế kỷ XIX, mang âm hưởng phong kiến ngay trong một bia mộ Phật giáo, gọi thiền sư ấylà “công” (ông).

THÁP TỔ MINH VI

Tháp hình vuông, cao 4 tầng, đây là tháp của tổ Minh Vi, thuộc đời thứ 38 của phái Lâm Tế, dòng đạo Bổn Nguyên. Tháp cao 6,24cm. kiến trúc có rào bao quanh tháp. Thành rào cao, mặt thành bằng chứ không có dáng bầu dục như ở tháp tổ Hải Tịnh, phía sau tháp có bia lớn, đầu bia lợp mái ngói, gồm 2 tầng mái. đường gờ mái nổi hình hoa văn cuốn. giữa bia trên mái có hoa văn nhưng bị gãy, kiến trúc rất giống với hoa văn thái cực ở tháp tổ  hải Tịnh. mặt bia của rào tháp có dấu trám xi măng do trùng tu lại nên không rõ có bài minh trước đây?

Phía trước tháp và sau tháp đều có xây bàn đặt lễ vật. bàn phía sau khá lớn dài, 1,80m, ngang  0,6m, cao 0,30m. Rào quanh tháp gồm 6 trụ vuông, hoa văn đỉnh trụ là toà sen và chóp nhọn.

mặt tháp tầng 1 cùng với các tháp khác, đều quay ra đường Lạc Long Quân, có bia gắn liền vào tháp, bằng đá xanh, ghi chữ hán khắc chìm : “Lâm Tế gia phổ, tam thập bát thế, thượng MẬT hạ HẠNH”, HUÝ Minh Vi “Hòa thượng chi tháp”.Bên phải bia ghi “Ngươn sanh Mậu tý niên”,bên trái ghi “tịch ư mậu tuất niên, thập nhất ngoạt, thập tứ nhật, thìn thời”.

Bia này có kích thước khá lớn,dài 1,15m, ngang 0,36m, cao 0,70m. trán bia khắc nổi hoa dây, trước bia cũng có bàn đặt lễ vật dạng chân quỳ dài 1,15m, ngang 0,70m, cao 0,36m.

Tháp tổ Minh Vi có kiến trúc đơn giản, giống tháp tổ Hải Tịnh, góc tháp có trang trí “cá hoá long”. Tháp xây gạch thẻ, có niên đại cuối thế kỷ XIX.

THÁP TỔ THIỆN THUẬN

Tháp hình lục giác, cao 6,38m, 3 tầng. Đây là tháp của tổ Thiện Thuận, thuộc đời 41 chi phái Lâm Tế, dòng đạo Bổn Nguên.

Tháp có bình đồ lục giác vốn là “ những tháp do các nhà sư Trung Quốc từ Hoa Nam sang tu hành trực tiếp xây dựng, nên mang đậm màu sắc Trung Quốc trong phong cách kiến trúc. Bình đồ đa giác (bát giác và lục giác) là bình đờua thích của người Trung Quốc trong kiến trúc tháp.

Tháp Tổ Thiện Thuận được xây bằng chất liệu chính là gạch thẻ và xi măng, có rào bao quanh tháp. Mặt trước có 4 trụ cao 1,50m. Đầu trên cột ạng vuông. Bốn cột trụ được đặt thẳng hàng, nhưng hai cột phía trong cao hơn và đỉnh là toà sen đang nở. Búp sen ở giữa rất nhọn.

Rào quanh tháp có 8 cột trụ vuông xen kẽ với hàng rào hình ống. Phía sau tháp, rào xây cao thành dạng bia. Trên bia xây diềm mái nhỏ với 12 hàng ngói ống. thân tháp đặt trên bệ dạng chân quỳ.

Tầng 1 : có các mặt tháp kín, mỗi tầng đều có hoa văn giả làm mai ngói và đường diềm mái. mỗi cạnh có 6 hàng ngói ống. “cá hoa long” được trang trí ở góc tháp. Diềm mái trang trí hình là đề, mặt trước của tầng 1 là bia tháp. Bia gắn liền vào tháp, dài 0,80m, ngang 0,46m, bằng đá thạch anh, mạ chìm chữ vàng nhũ. Bia ghi chũ hán “ Từ Lâm Tế chánh tông, tứ thập nhất thế, thượng THIỆN hạ THUẬN, huý NHẬT DẦN. lê công Hòa thượng chi bửu tháp”. Phía trái bia ghi “từ trần Giáp Dần niên, tam ngoạt, nhị thập lục nhật, ngọ thời”. Bên phải bia ghi “Xuất thế canh Tý niên, lương ngoạt, cát nhật, tý thời”.

Bệ đặt ở lư hương xây trước mặt bia, bằng đá mài, màu hồng, dạng chân quỳ cao 0,50m, dài 0,85m, ngang 0,60m.

Tầng  2 : Mặt tháp khắc chìm hình Quan Thế Âm Bồ Tát dạng ngồi trên mình thú. dạng này được lấy từ khuôn chạm gỗ bộ sám bài trong chùa. Tầng 2 có 5 tầng ngói ống giả. mỗi góc tháp đều có mô típ “cá hoá long”.

Tầng 3 : Mỗi mặt tháp được khắc một chữ Hán, hợp lại thành “ Nam Mô A Di Đà Phật”. Tầng 3 cũng có 5 hàng ngói giả. mỗi góc tháp là mô típ “ Rồng ngậm hạt châu”.

Nóc tháp đặt bình tịnh thủy, trên toà sen nở. Toàn tháp được quét vôi vàng, Đường gờ chỉ tô màu xanh dương, nổi lên những hàng ngói ống giả màu đỏ.

So với các tháp tổ Viên Quang, Hải Tịnh, Minh Vi, tháp tổ Thiện Thuận được trang trí khá nhiều hoa văn. Tháp mang dáng dấp kiến trúc nửa cổ kính ( có hàng rào quanh tháp với tấm bia lớn sau tháp…), nhưng  cũng thể hiện nét mới, mang phong cách phương Tây qua các cột trụ vuông, hàng rào có chấn song, bệ và chân tháp dạng chân quỳ…

Ngoài bình đồ lục giác có tháp mang yếu tố màu sắc tháp Trung Hoa, dạng lục giác còn gợi lên yếu tố lục độ, lục căn, lục thức, lục trần… trong giáo lý Phật giáo, bên cạnh hoa văn trang trí là bầu tịnh thuỷ, cá hoá long… tuy nhiên, tháp vẫn còn theo cách viết bia dạng cổ, ghi chữ hán, mặc dù đã có khắc thêm  ngày tháng năm sinh và tịch diệt.

Nội dung bia ghi năm thị tịch là Giáp Dần niên, tức 1974.

THÁP TỔ MINH KHIÊM

Tháp hình lục giác, cao 2 tầng. Đây là tháp của tổ Minh Khiêm Hoằng Ân, thuộc đời thứ 38 của chi phái Lâm Tế, dòng đạo Bổn Nguyên.

Tháp được xây dựng bằng chất liệu gạch thẻ và xi măng là chính. Tháp cao 6m, có rào bao quanh. Thiết kế rào hoàn toàn khác biệt với các tháp tổ trong chùa. nếu như ở các tháp khác, lối vào là một lối duy nhất với 4 hàng trụ thì tại tháp tổ Minh Khiêm có hai lối vào tháp ngăn cách bởi tấm bia làm bình phong chắn trước mặt tháp.

Bình phong chắn trước mặt tháp là dạng bia chữ nhật nằm ngang 1,70m, cao 2,30m, đỉnh bia có hoa văn dạng quả thơm - một dạng kiến trúc phổ biến trên xe tang Ấn Độ giáo. Trên bia trang trí dây hoa lá. Mặt ngoài là bài minh khắc nổi bằng xi măng bài thơ 20 chữ hán, viết thành 4 câu, mội câu 5 chữ:

“Hữu thiền hữu tịnh độ

Du như đái giác hổ

Hiện thế vi nhân sư

Lai sanh tác Phật tổ”

Tạm dịch:

“Có thiền có tịnh độ

Cũng như cọp mọc sừng

Đời nay làm thầy người

Đời sau làm Phật tổ”

Đây là bài kệ của Vĩnh Minh đại sư, tổ thứ 6 của phái Liên Tông.

Mặt trong bia là bài minh khắc chìm 40 chữ, gồm 8 câu, mỗi câu 5 chữ:

“Hữu vô danh vô hiệu

Vô tướng hữu giả danh

Hữu vô danh tự tính

Vô cung danh vô tình

Hữu vô vô biệt thể

Vô hữu cung vô hình

Hữu vô như cốc hưởng

Vật trước hữu vô thinh”

Rào quanh tháp có 3 trụ cột mỗi bên, trang trí viền rào là hoa văn dài dạng bình hoa, với 12 bình mỗi bên. Càng đi vào trong, hàng rào 2 bên càng cao lên. Đầu 2 rào có bệ cuốn chạm nổi hoa lá. Bia phía sau tháp nối với hàng rào được trang trí 2 con rồng chầu. vành bia phía sau chạm nổi cảnh 2 nai nô đùa, chim, hoa lá, cây cảnh.Trên bia khắc chìm bài minh 40 chữ, gồm 8 câu, mỗi câu 5 chữ:

“Đã cổ lộng tỳ bà

Hườn di nhất hội gia

Mộc đồng năng phủ chưởng

Thạch nữ giải phanh trà

Thiện tài tham biến xứ

Hắc đậu vị sanh nha

Vân tán thiên biến nguyệt

Xuân lai thọ thượng hoa”

Trước mặt tháp là bia, đặt tách rời với tháp, cao 0,80m. Bệ hình chân quỳ, mặt chạm hoa văn  nổi 4 đầu rồng ở 4 góc chân bệ và hoa văn hoa lá dạng đối xứng. Trán bia có hoa văn nhưng bị gãy mất nên không rõ. Bia khắc chìm chữ hán : “Từ Lâm Tế gia phổ,tam thập bát thế, Hoằng Ân Minh Khiêm thiền sư tháp”. Bên phải bia ghi : “Ngươn sanh canh tuất”, phía trái bia ghi : “Tịch ư Giáp Dần niên, chánh ngoạt, nhị thập cửu nhật, thìn thời”. Phần đặt lễ vật  gắn liền với bia, dạng chân quỳ, hoa văn đầu sư tử cách điệu ở 4 góc, giữa là hoa dây đối xứng.

Tháp tổ Minh Khiêm là tháp lục giác dạng chân quỳ, mặt tầng 1 kín, chạm nổi hoa văn chữ nhật dạng ximăng lấm tấm. Chân đế tiếp với tầng 2 của tháp cũng có dạng chân quỳ, cong ra ngoài thành đầu lân. Giữa và xung quanh cạnh là hoa văn dây cuốn, có tầng mái nhỏ đưa ra ở 6 cạnh. Trên diềm mái trang trí hoa văn cánh sen nở ngược.

Mặt tầng 2 kín, có cột tròn nhỏ ở các góc, hai bên 2 cột vuông, làm hoa văn cho khung mặt tháp tầng 2. Vòm mặt tháp hình gô tích. Đầu trên mỗi cột có 3 vòm cuốn tỏa ra đỡ lấy mái. Đầu vòm khung có đầu gắn Naga.

Chân tháp tầng 2 có trang trí mặt đắp nổi chữ nhật nằm ngang, dạng xi măng lấm tấm.

đỉnh các góc tháp là 6 rồng chầu, cùng với 5 hàng ngói ống dài tạo thành hình dù chụp xuống. Trên cùng là bình tịnh thủy với tòa sen phía dưới.

Đây là tháp tổ đặc biệt trong các tháp tại chùa. Mỗi  tầng đầu có chân đế, chóp tháp lại là chóp hình dù. Tháp có nhiều hoa văn trang trí, đặc biệt các góc tháp không đặt “cá hoá long” mà là rồng chầu. Tháp có nhiều bài mminh và có đến ba bia, có hai lối vào tháp. Dạng có bình phong chắn mặt tháp cũng ảnh hưởng yếu tố tín ngưỡng dân gian, nhằm ngăn ngừa tà ma vào nơi thanh tịnh, đồng thời cũng là một dạng tôn kính, khi vào nơi tôn nghiêm phải đi bằng hai lối nhỏ hai bên. Tháp tổ Minh Khiêm được xây dựng hỗn hợp nhiều phong cách kiến trúc, kiểu phương Tây như các đường gờ chạm nổi xi măng lấm tấm, cột trụ vuông, mái vòm cong gô tích; yếu tố Khmer cũng được đưa vào qua các đầu gắn Naga ở tầng 2; yếu tố Hán với các bài minh trên bia, với vòm cuốn dạng sóng nước trước cổng vào tháp. Ngoài ra những nét chấm phá của yếu tố tôn giáo trong phong cách kiến trúc cũng được thể hiện qua mô típ trang trí hình lá để làm diềm mái, kiến trúc tháp lục giác tượng trưng cho lục độ, lục căn, lục thức, lục trần… yếu tố tín ngưỡng, nghệ thuật Ấn Độcũng có qua hoa văn hình trái thơm, trên bia rào tháp…

Căn cứ vào nội dung bia và bài vị tổ, cho biết tổ Minh Khiêm viên tịch năm Giáp Dần, tứuc năm 1914.

THÁP TỔ HỒNG HƯNG

Tháp hình vuông, cao 2 tầng. Đây là tháp của tổ Hồng Hưng, thuộc đời thứ 40 của chi phái Lâm Tế, dòng đạo Bổn Nguyên.

Tháp cao 8,70m, kiến trúc có rào bao quanh tháp cao 1,208m. Tháp được làm bằng vật liệu chính xi măng, gạch thẻ…, bên ngoài cẩn đắp sành sứ.

Rào tháp được trang trí làm 2 phần, phía dưới xây kín, phần trên có hoa văn, mỗi bên có 8 trụ vuông. Lối vào tháp ở giữa.

Bia đặt trên bệ, tách rời với tháp, bia bằng đá trắng, khắc chìm nhũ vàng, diềm bia viền chữ đỏ, trán bia hình vòm cung gôtích, giữa là đầu rồng, phần trên là đầu gắn Naga cách điệu. Bia dài 1m, rộng 0,53, ghi chữ Hán “Từ Lâm Tế gia phổ tứ thập thế, thượng THẠNH hạ ĐẠO, Phạm công Hòa thượng chi bửu tháp”. Bên phải ghi “Xuất thế Đinh Sửu niên, ngũ ngoạt, sơ ngũ nhật, dậu thời”. Phía trái ghi hàng dọc “Từ trần Kỷ Sửu niên, tứ ngoạt, thập nhị nhật, mùi thời”.

Phía dưới bia có bệ đỡ, phần trên có hoa văn dọc ba cạnh, dạng chân quỳ. Mặt trước chính giữa cẩn đĩa sành hình thoi, bên ngoài là dạng gắn Naga cách điệu ôm lấy đĩa trái cây gồm lựu, phật thủ…

Tháp có chân đế cao 0,96m, dạng chân quỳ. Phần này cũng được cẩn đắp sành sứ. Bốn góc là đầu sư tử dạng chầu hầu. Mỗi mặt chân tháp được cẩn đắp hoa văn dạng đối xứung. Giữa là đầu gắn Naga cách điệu, bên trong có đĩa sành hình thoi, có tất cả 13 đĩa, mỗi bên 6 đĩa nhỏ tròn, hình thoi và ovan. Có 16 hoa văn mỗi mặt tháp.

Mỗi tầng chạy dọc theo đường mặt tháp còn có 2 dãy hoa văn, dãy dưới chạm nổi xi măng hình hoa, phần trên viền quanh tầng 1là đĩa sứ tròn, men xanh trắng, mỗi cạnh mười đĩa.

Tầng 1 : có cạnh dài 2,37m (phần ngoài) và 1,87m (phần trong). Mặt trước có bài kệ 20 chữ :

“Pháp bổn pháp vô pháp

Vô pháp pháp diệt pháp

Kim phú vô pháp thời

Pháp pháp hà hội pháp”

Tạm dịch :

“Pháp gốc pháp không pháp

Không pháp pháp cũng pháp

Nay khi trao không pháp

Pháp pháp đâu gặp pháp”

Bài kệ này vốn là của đức Thích Ca Mâu Ni Phật phú pháp cho Ca Diếp.

Các mặt khác của tầng 1 ghi :

“Phật bất lly tâm

Thọ hải phước sơn

Siêu chơn tánh hải”.

Tầng 2 : Mặt trước khắc bốn chữ Hán “ Hoa tạng trang nghiêm” ba mặt khác là các câu : “Tam thân viên hiển”; “Đông Lâm Tây Trúc”; “Tứ đức toàn chương”.

Mặt bia rào tháp sau tháp có câu :

“Nhất tánh viên thông nhất thiết tánh

Nhất pháp biến hội nhất thiết pháp”

Và bài minh 28 chữ :

Ngũ uẩn sơn đầu kiết Phật đường

Tỳ lư trúc dạ phóng hào quang

Nhược năng cư thử phi đồng dị

tức thị hoa nghiêm biến thập phương”

Mỗi mặt tháp đều cẩn sành sứ viền quanh các cạnh của tháp, với nhiều kiểu loại hoa văn và kích thước khác nhau, trong đó màu men xanh trắng là chủ yếu. hàng phía ngoài, mỗi cạnh có 2 đĩa màu trên và dưới. Hoa văn trên các đĩa này thường là trái cây, hoa lá, chùa tháp, phong cảnh thiên nhiên…

Phần tiếp giáp giữa tầng 1 và 2 : ở mặt dưới tháp được cẩn dày đặc hoa văn đầu rắn Naga cách điệu, xếp thành hàng đều nhau, trong đó có đắp đĩa sứ men xanh trắng và nhiều đĩa nhỏ hình ôvan, dạng muỗng, 4 góc là dạng cá hoá long.

Phần đỉnh : là chóp tháp, cấu trúc đặc biệt, có thể xem như một tầng thứ 3, dạng nhà hình vòm cung, với 2 cột tròn nhỏ bên mỗi cạnh. Trong có 3 tượng Phật Tam Thế tư thế đứng. Viền quanh vòm này là hoa văn rồng và cẩn đắp Đĩa sành sứ. Cuối  cùng có một ngôi tháp 4 tầng đặt trên đỉnh tháp tổ Hồng Hưng. Tháp 4 tầng này bằng sứ, Được chế tạo tại Lái Thiêu. Các mặt tháp đều có cửa. Đỉnh tháp 4 tầng có bầu tịnh thuỷ.

Tháp tổ Hồng Hưng được xây dựng trong thời gian Hòa thượng Hồng Hưng còn đang trụ trì, do thiết kế của Hòa thượng. Như vậy, tháp được xây năm 1945.

Nếu như ở tháp tổ Minh Khiêm có nét nổi bật là có 2 lối vào, có bình phong án ngữ, có 3 bia… thì tháp tổ Hồng Hưng lại là tháp nổi bật về kiến trúc - nghệ thuật. Phong cảnh ảnh hưởng nhiều nét phương tây, nhưng vẫn có sự dung hợp các yếu tố Khmer (đầu gắn Naga); yếu tố hán (bài minh trên bia, mặt tháp; con dơi ở hai bên bia phía sau tháp…)cho thấy niềm mơ ước được nhiều phúc và thịnh vượng.

3. Đặc điểm các tháp ở chùa Giác Lâm

Tháp và mộ ở chùa Giác Lâm chủ yếu được phân bố trên 3 khu vực chính : Phía trước chùa có tháp Ngũ Gia tông phái và khu mộ tháp đã bị giải toả. trước năm 1924, chùa có 29 tháp, chủ yếu tập trung tại đây. Đến những năm 1986 -1988, khu vực này bị giải toả theo chưong trình giải toả các nghĩa trang trong thành phố. hiện nay, tại đây chỉ còn 3 tháp. Một tháp Bảo đồng tại khu vực này đã trở thành tháp Phổ đồng với hơn 2.000 linh cốt.

1.Số lượng : Hiện nay, toàn chùa có 38 tháp, và 8 mộ, phân bố trên 3 khu vực chính :

Trước chùa : 3 tháp (2 bảo đồng, 1 lục giác 1 tầng).

Khu tháp Từ Vân : 25 tháp và 8 mộ (5 tháp lục giác 3 tầng, 6 tháp vuông 3 tầng, 2 tháp vuông 2 tầng và 12 tháp bảo đồng).

Khu tháp tổ : gồm 10 tháp ( 7 tháp của các Tổ thuộc chùa và 3 tháp ở các nơi khác).

2. Chất liệu : tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử, chất liệu cấu tạo có khác. Tháp bằng đá ong – có kết hợp vôi, đường, ô đước theo tỷ lệ thích hợp - phổ biến cho các tháp Tổ ( Viên Quang, Hải Tịnh). Ngoài ra, đầu thế kỷ XX, xuất hiện các tháp bằng gạch thẻ, ngoài đắp ximăng. Giữa thế kỷ XX, chất liệu kiến trúc đã phong phú với gạch thẻ, ximăng, đá mài, đá rửa… đem lại sự đa dạng trong trang trí và kiến trúc.

3. Kỹ thuật

Toàn bộ kiến trúc chùa Giác Lâm thể hiện một kỹ thuật chế tác phong phú, đa dạng. Từ kỹ thuật trộn chất kết dính để tạo nguyên liệu xây dựng tháp đến kỹ thuật chạm và khắc chữ chìm, chữ nổi trên đá xanh; kỹ thuật cẩn đắp những đĩa kiểu lên mặt tháp dùng trang trí.

Kỹ thuật tạo nguyên liệu xây dựng : vào giai đoạn chưa có ximăng dùng làm chất kết dính cho các công  trình xây dựng, người ta đã sử dụng phổ biến ô dước. Ô dước là loại cây khi ngâm nước cho nhựa như dạng một chất keo kết dính. Các tháp tổ chùa Giác Lâm, được xây dựng đầu thế kỷ XIX, đã tồn tại đến nay gần 200 năm, cho thấy kỹ thuật tinh vi trong việc tạo chất kết dính gồm một hỗn hợp vôi, đường, ô dước…

Kỹ thuật chạm khắc chữ Hán trên bia đá : ngoài kỹ thuật chạm khắc lành nghề, còn đòi hỏi nghệ nhân có một kiến thức về Hán học để có thể khắc nên những hàng chữ Hán chìm trên đá xanh đạt được trình độ sắc sảo như trên tháp tổ Viên Quang, hay khắc những co chữ rất nhỏ (dùng khắc năm sinh và mất), hoặc trang trí tạo dáng trên diềm và trán bia với hình ảnh hoa lá hoặc hổ phù…

Kỹ thuật cẩn đắp đĩa sành sứ trên mặt tháp : dùng trang trí cũng thể hiện trình độ kỹ thuật tinh tế.

Kỹ thuật cân đối cấu trúc tháp và chiều cao trong tổng thể cảnh quang chung của chùa : Hầu hết các tháp ở đây là tháp không quá cao, vững vàng, kỹ thuật cân đối các tầng hài hoà, không quá vượt thoát ra ngoài thiên nhiên mà hoà vào thiên nhiên.

4.Niên đại

Các tháp thuộc chùa có niên đại khác nhau. Tháp cổ nhất (tháp tổ Viên Quang), đưo85c xây vào đầu thế kỷ XIX (1827), một số tháp khác cuối thế kỷ XIX (tháp tổ Hải Tịnh 1875); đầu thế kỷ XX như tháp tổ Minh Khiêm (1914); giữa thế kỷ XX như tháp tổ Hồng Hưng (1945) và một số tháp vừa được xây dựng cách nay không lâu (khu tháp Từ Vân).

5. Phong cách nghệ thuật

thể hiện qua kiểu dáng và trang trí.

Kiến trúc : Có nhiều kiểu kiến trúc, tạo hình phong phú, đa dạng, thể hiện tính dung hợp và giao lưu văn hoá.

Kiểu tháp Bảo đồng, với 4 cạnh hoặc 6 cạnh, có toà sen trên đỉnh hoặc bình tịnh thuỷ.

Kiểu tháp có đế và không chân đế.

Kiểu tháp vuông 4,3,2 tầng.

Kiểu tháp lục giác 3,2 tầng.

Kiểu tháp có rào và có 1 bia lớn phía sau hoặc 2 bia, 3 bia.

Kiểu tháp có rào phần nửa sau tháp.

Kiểu tháp không rào.

Đặc điểm chính các tháp : các tháp thuộc chùa không cao, cao nhất chỉ có tháp  “Ngũ Gia Tông phái” (31,70m), các tháp khác không quá 9m, kiến trúc đơn giản, vững chắc.Hoa văn phổ biến là búp sen, cá hoá long, chữ Phạn, chữ Hán, chữ Vạn, tượng phật A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát… Hầu hết các tháp đều có dạng tháp lưu giữ hài cốt các vị tổ, Tu sĩ, chỉ có một tháp lưu giữ tro và đặt trên nền, một tháp chôn hài cốt trên nền (tháp tổ Hồng Huệ và Hồng Tòng thuộc khu tháp tổ). chùa không có tháp vọng, trong khu tháp Từ Vân có một tháp chưa đặt hài cốt (số 6 hàng 1). Tháp “Ngũ Gia tông phái” là loại tháp thờ Xá Lợi (Dhatu-stupa).

Trang trí : giai đoạn đầu, các tháp tổ chùa Giác Lâm chú trọng vào việc tạo dáng là chính, cho thấy sự đơn giản, dung dị. Hoa văn chủ yếu tập trung bên ngoài vòng rào tháp, với hệ thống tứ linh, tứ quý, cuốn thư, trang trí bằng chữ Hán dưới dạng các bài minh trên bia là những bài kệ nổi tiếng hay môtíp “ cá hoá long”… vào những năm sau này ( giữa thế kỷ XX), hình thức trang trí được đưa thẳng lên mặt tháp; bỏ hẳn vòng rào tháp, thể hiện trên đường gờ mái, trên mặt tháp, từ mặt tháp kín, không hoa văn, nay có chủ đề tứ linh, tứ quý, chữ Phạn, chữ Hán, ảnh A Di Đà, Quan Âm được khắc nổi, kết hợp tháp tổ với tháp Pháp (Dhamma-stupa) bằng cách khắc những câu kệ trên mặt tháp để mọi người chiêm bái và hành theo.

Trang trí bia tháp cũng có sự biến đổi theo thời gian về cả nội dung và hình thức bia. Ở các tháp cổ, nội dung bia đơn giản, tránh nêu tên, pháp danh, huý, chỉ gọi theo dạng chung : họ, hoặc tên theo quy cách Nguyễn công, lê công… (tức ông Nguyễn, ông Lê…). Bia không ghi năm sinh, năm mất. Kích thước bia cổ lớn và cao hơn, nhưng hẹp bề ngang. Về chất liệu đa số bia thuộc đầu và giữa thế kỷ XIX đều bằng đá xanh (sa thạch), sau này (giữa thế kỷ XX) phổ biến bia bằng đá trắng, đá mài, đá rữa… nội dung trên bia, nếu như vào đầu thế kỷ XIX còn ghi toàn bằng chữ Hán, thì đầu thế kỷ XX đã có bia ghi hai thứ chữ Việt-Hán và gần đây hoàn toàn bằng chữ Việt.

Phong cách nghệ thuật trên các tháp chùa Giác Lâm mang yếu tố dung hợp các luồng văn hóa, thể hiện giao lưu văn hóa mạnh mẽ giữa các cộng cư ở Nam Bộ như Khmer, Việt, Chăm… và phần nào đó là yếu tố phương Tây (Pháp), phương Đông (Trung Quốc, Ấn Độ), nhất là các tháp tổ được xây dựng từ đầu thế kỷ XX về sau (Tháp tổ Minh Khiêm, Phật Ý, Hồng Hưng, Thiện Thuận).

Bên cạnh sự dung hợp mạnh mẽ các yếu tố văn hóa nhiều nơi như vậy, tính chất địa phương và dân tộc vẫn được thể hiện. Nhiều hoa văn, mô típ trang trí là những cây trái bốn mùa của vùng đất Gia Định, và mở rộng hơn là ở Nam Bộ như đu đủ, mãng cầu, bưởi… được khắc trên trụ tháp của khu tháp Từ Vân… hoặc các đĩa sành sứ đa số đều được sản xuất từ lò gốm nổi tiếng của vùng Bình Dương, Lái Thiêu thuộc miền Đông Nam Bộ, được dùng trang trí trên tháp tổ Hồng Hưng, bên cạnh một vài đĩa men xanh trắng được sản xuất ở nước ngoài.

Các tháp cổ chùa Giác Lâm  có số tuổi khá cao và nằm trong ngôi chùa cổ nhất Thành phố Hồ Chí Minh nên nó đã trở thành một hiện vật có giá trị lịch sử giúp các nhà nghiên cứu tìm thấy được những “bước đi của lịch sử” in dấu trên các kiến trúc này. Những ngôi tháp này còn cho thấy quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc ở địa bàn Nam Bộ đã diễn ra khá mạnh mẽ và liên tục hàng trăm năm qua.

II. ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA THỂ HIỆN QUA KIẾN TRÚC CHÙA

Kiến trúc chùa Giác Lâm tiêu biểu cho kiến trúc các ngôi chùa cổ ở Nam Bộ, kể cả vị trí chùa. Đó là ngôi chùa được đặt trên đồi cao thoáng mát, có địa thế phù hợp phép phong thủy, có cổ thụ (bồ đề) trong sân… đặc điểm lịch sử và văn hóa của kiến trúc thể hiện qua các yếu tố phong tục tập quán, tính địa phương, tính tôn giáo, giao lưu văn hóa.

Tính địa phương : Miền Nam là vùng đồng bằng, trồng lúa, ít thấy đồi núi, do đó trong cảm quan người miền Nam ưa thích sự trải rộng. Cấu trúc chùa chiền vì vậy không vút cao, thách đố với thiên nhiên. Tâm tính hài hòa với thiên nhiên và đặc điểm là tính khiêm tốn đã thể hiện trong tâm thức cư dân Việt Nam Bộ một cấu trúc nhẹ nhàng, chùa được xây ẩn trong những vòm cây.

Môi sinh, khí hậu Nam Bộ cũng có ảnh hưởng không nhỏ trong việc hình thành kiểu loại mái chùa và ngói lợp! Miền Nam có mưa nhiều nhưng không nhỏ và dai dẳng như miền Bắc, do đó mái phải giúp thoát nước nhanh để đáp ứng với các cơn mưa rào. Ngói mũi hài (miền Bắc) đã được thay bằng ngói mang xối (âm dương).

Chất liệu sử dụng trong cấu trúc thường là tre, gỗ (sao, thau lau, mít, gõ…) vốn là những thực vật phổ biến trong vùng đồng bằng Nam Bộ.

Cột kê, qua sự kế thừa kiểu nhà “đâm trích cột kê” ở miền Trung, cũng được sử dụng, có lưu ý đến các hàng cột tiếp xúc thường với mưa (như ở hàng hiên chùa) để đặt cột đá cao hơn những nơi khác.

Giếng đào trong chùa (2 giếng) và hồ chứa nước mưa cũng là một đặc điểm trong kiến trúc, phản ánh sinh hoạt của cư dân vùng có sông rạch nhưng thường bị nhiễm mặn và phèn.

Các loại gốm sứ trắng men được đưa vào trang trí, góp phần tạo nét riêng biệt và thẩm mỹ cũng phù hợp với khu vực miền đất sét và có truyền thống lâu đời về nghề này.

Miền Nam là nơi tiếp xúc thường xuyên với nhiều cộng đồng tộc người như Khmer, Chăm, Hoa… đặc điểm này cũng góp phần quy định một số nét đặc thù thể hiện qua giao lưu văn hoá có mặt trong kiến trúc chùa.

Tính tôn giáo : Kiến trúc chùa, đặc biệt là tại chính điện được thiết kế cửa chính và phụ rất ít, điều này phần lớn xuất phát từ quan niệm đây là nơi thờ tự, nơi ngự của các vị Thánh, Thần, Phật… Do đó để tăng thêm phần linh thiêng huyền bí và trang nghiêm, chỉ cho ánh sáng vào rất ít, tạo vẻ thâm u, tạo thái độ dè dặt, chậm rãi khi bước vào. Mặt khác, với ánh sáng yếu ớt có chủ ý đó, các pho tượng thếp vàng như nổi rõ hơn, lung linh hơn, trong không khí thờ cúng khói hương.

Kiến trúc chùa như hòa vào kiến trúc nhà ở của cư dân xung quanh, không quá cách biệt. Trước khi có mô hình nhà kiểu tứ tượng, chùa cổ ở Gia Định cũng là kiểu nhà 3 gian 2 chái, vốn là kiểu nhà phổ biến ở Nam Bộ. Như vậy, khi bố cục khối và loại hình không gian này, ngoài ý nghĩa không tạo thế xa cách, phải chăng chư Tăng muốn qua đó bộc lộ ý nghĩa : “Trọng tâm, bất chấp tướng”. Chính vì vậy mà khi quan sát bên ngoài và bước vào bên trong người xem không tránh khỏi ngỡ ngàng với kiến trúc và trang trí phong phú. Ngoài ra, kiến trúc ít cửa, tạo vẽ đóng kín trong nội tự phải chăng đây cũng là hình thức ngăn chận “sự phóng tâm” ra cảnh đời bên ngoài của sư Tăng? Đối với Phật tử, khách tham quan, cảm giác thay đổi đột biến khi vào chùa sẽ hình thành tâm lý trang nghiêm, tôn kính hơn.

Giao lưu văn hóa : Qua kiến trúc, đặc biệt là nóc mái, đôi rồng cùng chầu vào một vành tròn ở trung tâm, có dạng tia lửa bao quanh, có thể xem đây là dạng rồng chầu mặt trời, phía trên “mặt trời” là bình tịnh thủy (bầu nước cam lồ = theo Phật hoặc bầu hồ lô=theo Đạo). Hình ảnh bát tiên trên nóc chùa là dấu vết của Đạo giáo trong ngôi chùa Phật giáo.

Ngăn cách lớp 2 và lớp 3 của chùa là sân “Thiên tỉnh”. Đối với người Hoa và trong các miếu thờ của người Hoa, sân này vừa là nơi vãn cảnh vừa lấy ánh sáng cho bên trong chùa.

Trong quá trình khai phá vùng đất phía Nam tổ quốc, sự cộng cư của người Việt và người Khmer đã diễn ra. Ảnh hưởng Khmer qua phong cách kiến trúc chùa Giác Lâm phần nào được thấy qua 2 lớp rào bao quanh khu vực chính điện, qua hoa văn trang trí đầu rắn Naga trên cổng Nhị quan, trên vách ngăn nhà tổ và chính điện, hoặc trang trí trên tháp…

Văn hóa Ấn được thể hiện qua con sư tử trên cổng Nhị quan. Tại các chùa Ấn Độ giáo, mô típ này khá phổ biến. Đối với những người theo đạo Phật, sư tử là con vật biểu trưng cho sức mạnh, và là vua của muôn loài, tiếng rống của sư tử vì vậy được ví như lời thuyết pháp của Phật Thích Ca vì có khả năng khuất phục muôn loài, ảnh hưởng tôn giáo đã đi vào nghệ thuật kiến trúc Ấn Độ qua mô típ sư tử, đặc biệt là dạng chầu hầu.

Tính dân tộc : tính chất khoan dung của dân tộc Việt Nam dễ dàng bắt gặp các yếu tố “tùy thuận, tùy duyên”… của giáo lý Phật giáo Đạo Phật cũng dễ dàng tiếp nhận các hình thức tín ngưỡng của cư dân bản địa để cùng hòa hợp, cùng tồn tại, phát triển. Trong khuôn viên chùa còn ngôi miếu nhỏ thờ thần nữ, có thể đã có từ trước khi lập chùa. Mặc dù được ghi là miếu thờ Linh Sơn Thánh Mẫu và ghi trên mặt trước miếu là năm 1969, nhưng đó chỉ là năm trùng tu và bên trong đã thờ tự nhiều nữ thần khác như bà Ngũ Hành, Bà Chúa Tiên, Chúa Ngọc… ngoài hình tượng Linh Sơn Thánh Mẫu. Chính vì vậy, dù cho có sự pha tạp, giao lưu nhiều yếu tố văn hóa vừa nêu, thể hiện qua kiến trúc chùa, nhưng trong tổng thể của nó, chúng ta vẫn không thể nhầm lẫn nó với bất cứ ngôi chùa Hoa hay chùa Khmer nào ở Nam Bộ. Sự hòa quyện, tiếp nhận yếu tố văn hóa từ các nơi, dung hợp và tạo cho mình bản sắc riêng chính là đặc trưng tộc người nổi bật của cư dân Việt.

B. TƯỢNG THỜ

Được xây dựng cách đây hơn 240 năm, trải qua hai lần trùng tu lớn vào những năm 1798-1804 và 1900-1909, số lượng tròn chùa Giác Lâm khá nhiều, do diện tích chùa được nới rộng, ngôi nhà to lớn hơn nên một số bộ tượng trong chùa như bộ Thập Bát La Hán, Thập Điện cũ tỏ ra không cân xứng, chùa đã cho tạo tác những tượng mới, kích thước to lớn hơn, để phù hợp với ngôi chùa. Trong số 118 pho tượng hiện còn lưu giữ tại chùa, có 113 pho tượng cổ, trong đó có bộ Thập Bát La Hán, bộ Thập Điện và bộ “Phật và Tứ chúng” (Phật Thích Ca Mâu Ni, Phổ Hiền, Văn Thù Sư Lợi, Quan thế Âm, Đại Thế Chí Bồ tát), là gây được sự chú ý của khách đến chiêm bái nhiều nhất.

BỘ TƯỢNG LA HÁN (ARHAT)


Mười tám vị La Hán chùa Giác Lâm được đặt thờ tại hành lang, dọc hai bên chánh điện. Bộ lớn đặt trên, bộ nhỏ để dưới, trên bàn thờ nhị cấp. Mỗi bên hành lang đặt 9 vị lớn và 9 vị nhỏ, đối vị với bàn thờ La Hán bên kia. Bộ nhỏ cao 50cm ngang giữa hai gối 32cm, đặt trên bệ cao 7cm. Được tạo tác vào giữa thế kỷ XVIII, từ khi lập chùa (1744). Bộ tượng lớn cao 80cm, ngang giữa hai gối 45cm, bệ cao 15cm. Tuợng được tạo tác vào giai đoạn đầu thế kỷ XIX, trong lần trùng tu thứ nhất của chùa, cả hai bộ tượng đều được tạc bằng gỗ mít nài. Đặc điểm của loại gỗ này là thân rắn, ruột đặc, bảo quản được lâu, ít mối mọt, bên trong màu gỗ sắc vàng thẫm. Tượng được lắp ráp từng phần, bên ngoài sơn son thếp vàng. Hoa văn trang trí thường là đắp nổi bằng giọt sơn, tia sơn hoặc nhựa thông. Một số hoa văn hình học như các hoa văn trên đai thường sử dụng mảnh kiếng màu đắp vào, sau đó thếp vàng bên ngoài.

Tượng La Hán chùa Giác Lâm tạc mỗi vị một tư thế : có vị tay cầm cây như ý; có vị nâng tháp 4 tầng; có vị cầm bình hồ lô, hoặc có vị ngồi rái tay, có vị trong tư thế “tay xé ngực chỉ Phật tại tâm”… Toàn bộ tượng nhỏ đều có nét mặt dài thanh tú, mắt xếch, mũi nhỏ, cao, lưng dài, môi mõng… mình mặc áo cổ cao nút thắt, bên ngoài áo tràng có cổ viền nẹp to, có hoa văn cúc dây trên nẹp và đắp từ trái sang phải. Tay áo tràng rộng. Bụng có đai ngang (có thể là lối thể hiện của quần hoặc cũn có dây rút). Các tượng nhỏ đều có đeo vòng tay nhỏ, mảnh hoặc có xoắn nổi lên trên thân vòng. Chân mang hài, đầu hài có hoa văn.

Bộ tượng La Hán lớn thể hiện nét mặt mập, tròn, mình to, khỏe, bụng và ngực nở nang.

Hai mắt gần như giao nhau, giữa trán đều có bạch ngọc hào, tai dài, trái tai dày, có vị đầu trần tròn nhẵn, có vị đội nón có vành nhỏ cong ra ngoài, cổ cao ba ngấn, lưng dài chân ngắn và to. Mình mặt áo tràng, nẹp trơn, không có hoa văn, không đeo vòng ở cổ tay. Chân mang hài nhưng không thể hiện hoa văn.

Để hiểu rõ hơn về gốc tích các vị La Hán chùa Giác Lâm, cần tìm hiểu quả vị A La Hán trong Phật giáo và những ảnh hưởng trong quan niệm thờ cúng các La Hán từ trước đến nay.

La Hán là tên gọi tắt của chữ A La Hán, là phiên âm từ tiếng Phạn Arahatta, còn gọi là Arahant, tiếng Hán gọi là “sát tặc”, có nghĩa là giết được giặc phiền não, vô lại. A La Hán là những bậc đã tu đến chỗ không sanh, không tử, không có gì phải học nữa, nên có nghĩa là vô học hay vô sinh. Theo Phật giáo, A La Hán là quả vị cao nhất trong bốn bậc của Thanh Văn thừa (Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán). Đó là quả vị của những bậc tu theo phép Tứ Đế. Tu theo phép Thập Nhị Nhân Duyên mà chứng đạo thì gọi là Duyên Giác. Theo Đức Phật thì chỉ có một Phật thừa (Nhất thừa) là con đường dẫn chúng sanh đến quả vị Phật, không có hai hay ba thừa. Tam thừa được đề cập gồm Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát “chẳng qua chỉ là phương tiện”, “nếu Thanh Văn, Duyên Giác tưởng rằng đã chứng Niết Bàn mà không tin pháp Nhất thừa là hàng tăng thượng mạn, không phải đệ tử Phật, không phải thực chứng La Hán (Đức Thế tôn nói với Xá Lợi Phất-Kinh Diệu pháp Liên Hoa, phẩm 2 : Phương tiện). Phần lược giải kinh Pháp Hoa còn cho biết thêm “Quả La Hán Phật ấn chứng được hiểu từng chặn đường khác nhau. La Hán theo ngoại đạo là người xứng đáng cho tha nhân cúng dường, lấy mức độ cúng dường để xác định La Hán. Theo đức Phật, ngài xác định La Hán không những là xứng đáng cho trời người cúng dường, mà phần tu chứng bên trong quan trọng hơn. La Hán không còn lầm lỗi, không có phiền não, đã hoàn tất việc tư lợi, không bị ràng buộc trong tam giới : Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, tâm được tự tại (Thích Trí Quảng 1990 : 68). Hơn nữa theo quan niệm của Phật thì pháp của A La Hán chứng đắc chỉ diệt hết kiết sử phiền não, không còn khổ đau. Nếu thật chứng diệt đế, các ngài phải làm cho tất cả người xung quanh không còn phiền não. Từ quan niệm về quả vị này mà trước đây có nhiều cách hiểu tương đối khác nhau. Do sự phân chia quá rạch ròi trong quan niệm của Tiểu thừa và Đại thừa về quả vị này đã đưa đến sự tiếp thu về thờ tự La Hán có khác. Đồng thời Phật giáo Việt Nam vốn xuất phát từ hai nguồn ảnh hưởng quan trọng ở Ấn Độ và Trung Quốc nên đứa đến sự thừa nhận các vị La Hán có tên gọi khác nhau. Buổi đầu, trong Pháp trụ ký, do A La Hán Nan Đề Mật Đa La Tôn giả tại Tích Lan, thuyết trong khoảng 800 năm sau Phật diệt độ, có đề cập tên họ 16 vị La Hán ghi tiếng Phạn và được dịch sang chữ Hán như Pindolabharadvaja (Tân Đô La Bạt La Dọa Xà), Kanakavatsa (Ca Nặc Ca Phạt Ta)… Sau này, con số đó cũng được Giáo sư Hà Văn Tấn khẳng định khi đọc lại nguyên bản tấm bia chùa Linh Xứng được tạc vào thời Lý-Trần. Theo giáo sư, những người dịch ký bia Linh Xứng, rồi công bố trong tập thơ văn Lý-Trần, đã lầm chữ “Lục” thành chữ “Phương” cho nên thập lục cực quả nói đến ở trong bia nên được được hiểu là 16 vị La Hán chứ không phải là “Thập phương cực quả”. Sau này con số lên đến 18, có nhiều ý kiến giải thích rằng thêm hai vị nữa là Nan Đề Mật Đa La và Tân Đầu Lô mà Tân Đầu Lô lại chính là Tân Đô La Bạt La Dọa Xà vậy. Có thuyết còn cho đó là Ca Diếp Tôn giả và Quân Đồ Bát Thán Tôn giả. Theo bên Tây Tạng thì hai vị này là Ma Gia phu nhân và Di Lặc.

Trên đây là những quan niệm ít nhiều đã mang ảnh hưởng của Ấn Độ, với tên họ gốc tích các La Hán đều là người Ấn. Trái lại, một luồng ảnh hưởng khác, không kém quan trọng và đã chi phối hầu hết cách thờ cúng La Hán ở các chùa Nam Bộ, đó là quan niệm có 18 vị La Hán. Mặc dù gốc gác và xuất xứ các vị đó khác nhau, nhưng tựu trung đều là những nhân vật và những huyền thoại xuất phát từ Trung Quốc. Có thuyết cho rằng : “Họ Trương ở Kim Thủy đất Thục vẽ tranh 18 vị La Hán”. Cũng có thuyết cho rằng 16 vị La Hán do người Quán Hữu đời nhà Lương thấy trong chiêm bao mà vẽ ra, cũng có truyền thuyết hư cấu về cuộc đời của 18 vị La Hán này vốn là những tướng cướp, sau gặp duyên may, giác ngộ Quy Y Phật và chứng quả A La Hán. Thật ra đây chỉ là truyền thuyết, nhằm mục đích an ủi khuyên răn người làm sai, nếu biết sám hối vẫn có thể đắc quả, chứ đây không hẳn là sự thật.

Cao Tăng truyện, bộ Tục Tạng còn nêu ra 18 vị La Hán với tên gọi là bảo bối cầm tay như “Tôn Bỉnh, ngồi trên tòa tay cầm bình bát”, “Đàm Tưởng-ngồi trên tòa tay cầm cái linh”; “Hoa Viễn, ngồi trên tòa tay cầm phất trần…” hay trong bộ kinh Quy nguyên trực chỉ thiền tông tịnh độ cho biết “đời Tấn, tổ Huệ Viễn làm chủ hội chùa Đông Lâm cùng với 17 vị nữa vừa pháp sư vừa cư sĩ người Hoa và người Ấn thành lập Liên Hoa xã (Lư Sơn, tỉnh Chiết Giang) mà người đời gọi là 18 đại hiền, đó là : Huệ Viễn Pháp sư, Huệ đỉnh Đại sư, Đạo Danh Pháp sư, Tông Bỉnh cư sĩ, Đạo Tổ Cư sĩ…

Khảo sát một số ngôi chùa ở Thành phố Hồ Chí Minh như chùa Giác Hải (quận 6), chùa Giác Viên, chùa Phụng Sơn (quận 11), chùa Đức Lâm (quận Tân Bình) cho thấy hầu hết các pho tượng tròn hoặc tranh vẽ diễn tả 18 vị La Hán đều theo phong cách cùng tên gọi, bửu bối cầm tay trong Cao Tăng truyện : đồng thời với bản danh sách 18 vị đại hiền của Liên Hoa xã do Huệ Viễn thành lập nhằm mục đích “Cùng nhau cầu nguyện để đựoc về cực lạc”, cũng đề cập một số tên trong số các vị La Hán mà Cao Tăng truyện đã nêu. Ngoài ra, khi được hỏi về mục đích và ý nghĩa của con số 18 vị La Hán này, tại chùa Giác Lâm, các thầy còn cho biết thêm : “con số 18 này muốn đề cập đến 18 giới, tượng trưng cho 6 căn, 6 thức, 6 trần, vượt thoát được nó là đã chứng được vị A La Hán”.

Bên cạnh một nguồn gốc về các La Hán nêu trên, còn có một sự tích về Thập Bát La Hán được giáo thọ Hoàng Khai, chùa Càn An, Bình Định, năm Tự Đức thứ 4 (1851) lược dịch từ bản chép tay bằng chữ Hán, theo tích này thì 18 vị La Hán này vốn là con của công chúa Hy Đạt, nước Triệu. Thực ra ở Trung Quốckhông phải chỉ có quan niệm thờ 18 vị La Hán mà theo đại đứuc Nhật Tu người Hoa, hiện trụ trì Thảo Đường Thiền tự (quận 6) cho biết tại chùa Quốc Thanh (Ngũ Đài sơn) có thờ 500 vị La Hán; và để tránh sự giống nhau trong việc tạo tác, chùa đã quy định mỗi nghệ nhân chỉ được phép tạc 5 vị.

Từ một  số cứ liệu về nguồn gốc, tên gọi các vị La Hán đã cho phép chúng ta bước đầu có những nhận định sau : Phật giáo được truyền vào nước ta từ phía Ấn Độ và Trung Quốc nên ở Việt Nam phổ biến hai thuyết chính về nguồn gốc các La Hán, một từ Ấn Độ là 16 vị và một từ Trung Quốc là 18 vị.  Tùy từng hạnh nguyện và các tổ truyền thừa khác nhau mà việc quan niệm  và tạc thờ có khác nhau, 16 hay 18 vị, ở từng nơi tại miền bắc, điển hình là chùa Tây Phương phổ biến các La Hán vốn là những vị tổ thân cận với đức Phật như La Hầu La, Hiếp Tôn giả… Ở Nam Bộ, hầu hết các chùa thuộc dòng Thiền Lâm Tế, nhưng chịu tác động của Tịnh Độ Tông không nhỏ, lại được sự trực tiếp  hoằng pháp của các Thiền sư Trung Hoa trong giai đoạn đầu di dân vào Nam Bộ nên tính chất và quan niệm về 18 vị La Hán thực chất chính là những nhân vật sống, đã tu hành và đắc pháp tại thế như hình ảnh của 18 vị trong Cao Tăng truyện đã nêu và 18 đại hiền trong kinh Quy Nguyên trực chỉ. Từ nhận định này có thể kiểm chứng ngay trên thực tế bộ tượng 18 vị La Hán chùa Giác Lâm. Tượng ảnh hưởng phong cách điêu khắc Trung Hoa đậm nét trong việc cấu tạo nhân dạng, trang phục, trang trí hoa văn, trang sức. Nét mặc thon dài, với đôi mắt xếch, nhỏ, mày cong, mũi nhỏ, môi mỏng… với chiếc áo cổ cao, nút thắc : tay áo ngắn; quần bó ống… là những đặc điển trong trang phục Trung Quốc, mà hiện nay tại các chùa theo Phật giáo Hoa tông vẫn còn duy trì. Đâc biệt với chiếc áo tràng, với các viền nẹp áo gồm những mảnh vải nối chồng lên ở cổ áo, được phân biệt trên tượng bằng hai loại hoa dây và chấm tròn. Các đai ngang bụng, quần dây lưng rút, tay đeo vòng, chân mang hài… đều là những trang phục cần thiết trong triều chính Trung Quốc. Ở bộ La Hán lớn, được tạc vào đầu thế kỷ XIX, ảnh hưởng Trung Quốc đã nhạt dần. Nét mặt mập tròn, dáng người to khỏe với bộ ngực nở nang, mặt dù về mặt cơ thể học, bộ tượng chưa được cân xứng lắm, với người mập, chân ngắn (do khi tạc tượng không chú ý đến tỷ lệ), các ngón cái quá dài…, nhưng đặc biệt, bộ tượng La Hán lớn thể hiện được nhiều hơn tướng tốt của Phật có bạch ngọc hào, tay dài cổ cao ba ngấn… Chính vì quá tập trung vào các quý tướng của Phật mà nhóm tượng này đã có sự bất cân xứng về mặt cơ thể học! Trong trang phục, tượng không còn dáng vẻ Trung Quốc mà là trang phục của những nhà tu hành, với áo tràng nẹp trơn, không thấy hoa văn, không đeo vòng tay, không thể hiện hoa văn ở hài… Tóm lại, nếu như bộ tượng La Hán nhỏ có được những nét sinh động như cách ngồi và nét mặt, thể hiện tính phóng khoáng, cởi mở, không bị ràng buộc vào quy ước của cách tạc cũng như của người mẫu, làm cho bộ tượng có nét dí dỏm, hiện thực, thì cũng với những yếu tố này đã làm cho bộ tượng mang nặng màu sắc Trung Hoa, vốn là gốc tích của nhân vật được tạc. Trái lại, bộ tượng lớn do bị lệ thuộc vào một số quy ước của các tướng tốt của Phật : nét mặt thể hiện gương mặt của người Việt Nam Bộ, và là những người Việt sung túc, no đủ, nên kém sinh động hơn, mà lại nhuốm màu của người đã “ngộ đạo” nhiều hơn!

Bộ tượng La Hán chùa Giác Lâm có một giá trị lịch sử lớn, là hiện vật trong ngôi chùa cổ nhất thành phố nên bản thân cũng có tuổi cao hơn so với các tượng khác. Bộ tượng còn đánh dấu bước di dân của người Việt vào vùng đất mới, tín ngưỡng và hình thức thờ phụng các vị La Hán, mà gốc tích của các vị này xuất phát từ Trung Quốc. Ngoài ra bộ tượng còn chứng minh cho quá trình phát triễn của Phật giáo ở Nam Bộ, từ những ảnh hưởng nặng nề của phái Lâm Tế ở Trung Quốc, đã dần dần xác lập được một dòng mới, mang đặc điểm dân tộc và hoàn toàn của người Việt, mà tiêu biểu là những sơ tổ của Tổ đình Giác Lâm.

TƯỢNG 5 VỊ (PHẬT VÀ 4 BỒ TÁT)

 

Là vùng đất mới ở phía Nam Tổ quốc, Nam Bộ, trong quá trình phát triển của mình đã thể hiện rõ nét “đặc trưng vùng” qua nhiều mặt. Trong Phật giáo, tại chính điện các ngôi chùa cổ, một trong những khác biệt so với các tượng đặt thờ ở miền Bắc và miền Trung chính là bộ tượng 5 vị gồm : Thích Ca Mâu Ni Phật, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù Sư Lợi và Phổ Hiền Bồ Tát, đặt tại bàn tam bảo. Tìm hiểu bộ tượng này trêncác mặt phong cách, chức năng sử dụng, thâm ý thờ phụng… sẽ góp phần làm rõ tính độc đáo, sáng tạo của cư dân có tín ngưỡng ở vùng đất mới Nam Bộ dưới triều Nguyễn.

Khái niệm và thuật ngữ chỉ bộ tượng 5 vị gồm Phật ThíchCa và 4 Bồ tát, cho đến nay quả thật còn chưa thống nhất. Khi khảo cứu cá ngôi chùa cổ, có người đã định tên cho bộ tượng này là bộ Ngũ Hiền. Thật ra cách gọi trên chưa được thỏa đáng! Tên gọi Ngũ Hiền phù hợp và thường được dùng để nói đến các bậc thánh hiền. Và như vậy, một phần nào đó đã hạ thấp vị trí và vai trò của Phật và Bồ tát. 5 tượng này gọi là 5 vị vì trong Phật giáo, khái niệm “các vị” bao gồm các vị bồ tát 10 phương. Trong sách Phật, 4 Bồ tát Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền là 4 vị tiêu biểu cho các hạnh nguyện và đức tính căn bản để trở thành bậc giác giả (Boudha).

Quan Thế Âm Bồ tát, hay Bồ tát Quán Tự Tại, còn gọi Avalokitesvara là vị Bồ tát hiện thân của lòng từ bi cứu độ chúng sanh. Đại Thế Chí Bồ tát, còn gọi là Mahasthamaprata, tiêu biểu cho hạnh nguyện cứu độ chúng sanh, tinh thần đại hùng đại lực. Quan Thế Âm Bồ tát và Đại Thế Chí Bồ tát được đặt hai bên tượng A Di Đà Phật trong cấu trúc bộ tượng “Di Đà tam tôn” có hầu hết ở các chùa và là hiện thân của tha lực cứu độ.

Văn Thù Sư Lợi Bồ tát còn gọi là Manjurci, tượng trưng cho lý trí, trí tuệ, là vị Bồ tát hiểu thấu Phật tính, có đầy đủ ba đức : Pháp thân, bát nhã, giải thoát, hằng đem ba đức ấy giác ngộ chúng sanh. Phổ Hiền Bồ tát, còn gọi là Samantabhadra, là vị Bồ tát có 10 hạnh nguyện lớn, tượng trưng cho chân lý, hạnh và từ bi. Văn Thù Bồ tátvà Phổ Hiền Bồ tát thường đưoợc đặt thờ trong hệ thống bộ tượng “Hoa Nghiêm Tam Thánh”, còn gọi là bộ Phật “Thích Ca tam tôn”, chung với Thích Ca ở giữa, ngụ ý Phật Thích ca dùng chân trí để thâm đạt chân lý, hoặc tượng trưng cho Bi (Phổ Hiền) và Trí (Văn Thù) viên mãn của Phật Thích Ca, nên hai vị Bồ tát này thường có mặt bên trái và bên phải Đức Phật, là hiện thân của tự lực.

Tại Nam Bộ, hai hệ thống tượng này được kết hợp lại thành một bộ tượng gồm 5 vị với một vị ở giữa, vừa mang ý nghĩa là Phật Di Đà trong cấu trúc “Di Đà tam tôn” vừa là Thích Ca Mâu Ni Phật trong hình tượng “Hoa Nghiêm tam thánh” Nhưng khi đặt thờ thì vị ấy được xem là Thích Ca Mâu Ni Phật.

Mặt khác, trong dân gian còn lưu truyền ý nghĩa 5 vị này có nguồn gốc từ truyện Phong Thần, đã giải thích Phật và Tứ chúng mang phong cách thượng kỳ thú (ngồi trên lưng thú) đi can gián hai nhóm Thiên Tiên và Địa Tiên đánh nhau, kêu gọi hai nhóm này hãy trở về nguyên dạng các con vật đã quy y Phật. Đây có thể là một huyền thoại được nêu lên nhằm mục đích kêu gọi tất cả các loài hãy bỏ dữ làm lành noi gương hạnh, nguyện, bi, trí của Phật và 4 vị Bồ tát này.

Trong thực tiễn ở Nam Bộ, tại các ngôi chùa cổ dưới triều Nguyễn, bộ tượng 5 vị là một đặc trưng riêng có tại đây, được thể hiện dưới nhiều phong cách, chất liệu khác nhau. Tại đa số chùa cổ, tượng được tạc bằng gỗ mít nài, to nhỏ có khác nhau đôi chút, nhưng vẫn là dạng thưỡng kỳ thú. Trong địa phận Thành phố Hồ Chí Minh, các chùa Giác Lâm (quận Tân Bình), Giác Viên và Phụng Sơn (quận 11), Long Thạnh (Bà Hom, huyện Bình Chánh)… là những ngôi chùa cổ đặt bộ tượng này.

Bộ tượng 5 vị chùa Giác Lâm, được xem là bộ tượng đặc biệt nhất, được tạc bằng gỗ mít nài, thếp vàng, cao 0,80m. Tượng Thích Ca đặt giữa, ngồi trên tòa sen làm bệ đỡ, cao hơn các tượng khác. Bố cục bệ hình thang nên dáng ngồi vững chãi; 4 tượng Bồ tát đều ngồi một bên lưng con vật. Phổ Hiền Bồ tát ngồi trên mình voi, tay cầm nhánh sen hồng. Đại Thế Chí Bồ tát và Quan Thế Âm Bồ tát cưỡi sư tử, tay cầm cuốn thư, Văn Thù Bồ tát, tay cầm nhành như ý, cưỡi sư tử. Các con vật đều nằm trong tư thế phủ phục.

Ở chùa Giác Viên, bộ tượng 5 vị cũng có cùng phong cách với chùa Giác Lâm. Tại chùa Phụng sơn, bộ tượng 5 vị bằng gỗ, dạng thượng kỳ thú. Đặc biệt, chùa có tạc tượng Phổ Hiền Bồ tát cưỡi voi 9 ngà. Tượng Phật Thích Ca  cũng có dạng ngồi trên mình thú và tất cả các con vật đều đứng. Phật Thích Ca và Bồ tát đều đang bắt ấn quyết (mudra). Chùa Long Thạnh, do bị hư hoại trong chiến tranh, nên bộ tượng 5 vị được tạc lại bằng xi măng, sơn màu bên ngoài. Phật và Bồ tát đều bắt ấn và ngồi trên mình thú. Đặc biệt hình tượng Quan Ân và Thế Chí trong bộ tượng này ở tất cả các chùa đều tạc dưới dạng cư sĩ, xõa tóc thành 6 tết xuống tận vai, tượng trưng cho lục độ. Ngoài ra, tại một số chùa cổ như chùa Phước Lâm (thị xã Tây Ninh) còn đặt thờ 5 vị này dưới dạng phù điêu bằng gỗ, 5 bức phù điêu này được gọi là bộ Sám Bài, sử dụng trong việc cúng cầu an và cầu siêu tại nhà Phật tử. Khi ấy, vị Phật ở giữa được quan niệm là A Di Đà Phật. Tại chùa Phước Lưu (thị xã Tây Ninh) còn đặt thờ bộ tượng này dưới dạng tranh màu, lồng kính.

Bộ tượng 5 vị xuất hiện ở Nam Bộ trong giai đoạn đầu thế kỷ XIX, tức giai đoạn mở đầu triều đại nhà Nguyễn.

Sự xuất hiện của bộ tượng 5 vị vào giai đoạn này chứng tỏ đời sống của cư dân tại đây đã tương đối sung túc, người dân lập chùa, tạc nhiều tượng và bên cạnh những phong cách cổ xưa vốn chịu ảnh hưởng từ miền Trung và miền Bắc, Nam Bộ đã sáng tạo thêm những nét riêng biệt, độc đáo qua hình tượng 5 vị này. mặc dù đường nét thần linh vẫn còn phảng phất qua phong cách tô tạc, nhưng phải thừa nhận rằng bộ tượng đã thể hiện được tính thực tiễn rất cao qua việc kết hợp và thể hiện ý nghĩa của bộ tượng : đó là tinh thần một đạo Phật nhập thế, đi vào cuộc đời. Bộ tượng đươc tạc dưới dạng thượng kỳ thú, tay bắt ấn, tay cầm bửu bối của mình chứng tỏ tượng đặt thờ không phải trong tư thế tham thiền nhập định, mà là đang ở tình trạng hoằng hóa, thuyết pháp độ sanh. Chùa Phụng Sơn còn tạc Phật Thích Ca và Bồ tát cưỡi trên các con vật đang trong tư thế đứng, dường như là biểu hiện của sự gấp gáp cứu độ. Các Bồ tát được đưa trở về gần gũi hơn với con người phàm tục, với tóc tết và bộ tượng 5 vị được đặt tại bàn tam bảo là bàn thấp nhất và gần gũi nhất vớ Phật tử, không tạo thế xa cách mà như hòa với họ.

 

Trên bước đường đi vào vùng đất mới, cư dân nơi ở mới có nhu cầu dựng chùa, tạc tượng. Vốn là những người dân cùng khổ phiêu tán, hơn ai hết họ là những người đang cần sự cứu độ, hướng về tha lực, cần có được niềm an ủi về mặt tinh thần. Tình cảm xa quê cách tổ, nỗi nhớ thương người thân thuộc, sự mong ước được an lành khi bệnh tật, đau ốm và được siêu thoát khi qua đời… đã làm cho hình ảnh của A Di Đà Phật, của Quan Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, biểu tượng của lòng từ bi, tha lực, trở thành hình ảnh chủ yếu mà người dân có tính ngưỡng ở Nam Bộ cần đến. Nhưng một nặc khác, quan trọng hơn, vì vốn là những người cùng khổ, luôn phải đấu tranh không ngừng với thiên nhiên, với những bất công đầy rẫy trong xã hội quanh mình, buộc họ phải có một ý chí mảnh liệt, một tinh thần dũng cảm, bất khuất, kiên cường. Trong chiều hướng đó, người dân có đạo đã tha thiết hướng về những vị Bồ tát mang hạnh nguyện tiêu biểu cho tinh thần tự cường tự lực, đó chính là hình ảnh của Thích Ca Mâu Ni Phật, của Văn Thù Sư Lợi và Phổ Hiền Bồ tát. Hơn ai hết, người dân có đạo ở Nam Bộ đã cảm nhận được nhu cầu của mtự lực và tha lực đến mức nào. Hoàn cảnh xã hội, môi trường sống và đặc trưng trong cá tính của người di dân đã đem lại những nhu cầu này. Vào đầu thế kỷ XIX, tại Nam Bộ, nhu cầu đó đã được đáp ứng bằng bộ tượng 5 vị nêu trên. Tính thực tiễn, đặt nặng vào cuộc sống hiện tại hơn là quá khứ đã qua, đã được thể hiện qua hình ảnh tượng Phật Thích Ca, vị Phật tiêu biểu cho thời hiện tại, được đặt giữa bộ tượng này. Mặt khác, vai trò và ảnh hưởng của một dòng Phật giáo Nam Tông tại vùng đất Nam Bộ lúc ấy không phải là không có. Hình ảnh Phật Thích Ca là hình ảnh duy nhất có trong quan niệm của những người theo Phật giáo Tiểu Thừa ở Campuchia, trong cư dân Khmer Nam Bộ và xa hơn là một số nước khu vực Đông Nam Á. Do vậy, mới có biểu tượng về sự kết hợp 4 vị Bồ tát, mà mỗi vị tiêu biểu cho một đức tính căn bản Bi, Trí, Hạnh, Nguyện. Có đầy đủ đức tính ấy là có Phật tính, là bậc giác giả, là Phật, là Bouddha.

Có thể thấy rõ hơn nét đặc trưng trong thờ cúng của cư dân Việt theo đạo Phật khi so sánh bộ tượng này với bộ tượng 5 vị tại các ngôi chùa của người Hoa. Tại đây hệ thống 5 vị được biểu tượng bằng hình ảnh của Di Lặc Bồ tát ở giữa, hai bên là Địa Tạng Vương, Phổ Hiền Bồ tát, Văn Thù Bồ tát và Quan Thế Âm Bồ tát. Hình ảnh này hiện đang được đặt thờ tại ngôi chùa Thảo Đường (quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh) thuộc dòng Tào Động từ Trung Quốc truyền sang.

Tóm Lại, biểu tượng kết hợp 5 vị, Phật và Bồ tát, hiện còn lưu giữ tại chùa đã góp phần tạo nên sự sinh động rong văn hóa Phật giáo thời Nguyễn ở Nam Bộ. Qua biểu tượng này ta thấy, cùng với niềm tin về sự hổ trợ của tha lực, của Phật và Bồ tát…, cư dân có tín ngưỡng tại đây còn có niềm tin về sức sống, ý chí mạnh mẽ của nội lực, của chính mình để chiến thắng ngoại cảnh, thiên nhiên và xã hội. Đó là một trong những nét sáng tạo độc đáo mà bộ tượng đã thể hiện. Cùng với phong cách nghệ thuật của mình, bộ tượng 5 vị đã góp vào dòng sinh hoạt văn hóa thời Nguyễn thế kỷ XIX những đường nét mới lạ, tiêu biểu và thể hiện rõ tinh thần nhập thế và tính chất dân gian của Phật giáo ở Nam Bộ.

BỘ TUỢNG THẬP ĐIỆN

Tại hàng lang chính điện còn là nơi đặt thờ Thập Điện Diêm Vương. Thập Điện Diêm Vương nào phải đâu là quan niệm chính của giáo lý nhà Phật. Do trình độ và sự tiếp thu của người bình dân Việt Nam về đạo Phật đã xuyên qua lăng kính của các hình thức tín ngưỡng dân gian, của việc phải cụ thể hóa cái ác và đioều thiện để người bình dân dễ hiểu, dễ tiếp nhận, nên dạng tượng Thập điện Diêm Vương là dạng phổ biến ở hầu hết các ngôi chùa cổ. Điều nổi bậc trong phong cách tạc tượng này là việc xử lý hoa văn. Tất cả những sự tinh tế, khéo léo của nghệ nhân đều đặt vào đây. Hoa văn trên áo và trên mão. Cùng một kiểu tay, một thế ngồi, một kiểu áo nhưng không tượng nào giống tượng nào. Tinh xảo nhất là thể hiện cho được khuôn mặt người đang phán xử. Không vui buồn mà toát lên vẻ trang nghiêm, quan trọng. Sự thêm bớt hoa văn trên áo, trên mão tuy tiểu tiết, nhưng chính sự thay đổi tiểu tiết đó đã làm cho bộ tượng sinh động và mềm mại hơn.

CÁC TƯỢNG KHÁC

Pho tượng Địa Tạng bằng đồng đặt ngồi trên đề thính, nhỏ nhắn nhưng được đúc tinh xảo, sơn son thếp vàng. Với mão tỳ lư, mình đắp y vàng. Địa Tạng vương Bồ tát được hầu hết mọi người biết đến và cầu nguyện, nhất là trong những buổi cầu siêu, vì lời đại nguyện vang lừng các cõi của người : “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật; chúng sanh độ tận, phương chứng bồ đề” (Địa ngục chưa trống, thề không thành Phật; độ hết chúng sanh, mới chứng bồ đề).

Trên chính điện hệ thống Tam thế Phật và Di Đà tam tôn được xử lý rất khéo. Cách bố trí tượng tam thế theo chiều dọc gồm A Di Đà, Phật Thích Ca, Di Lặc và bộ tượng Di Đà tam tôn theo chiều ngang gồm Di Đà, Quan Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, vẫn lấy tượng Di  Đà làm trục giữa. Tượng A Di Đà là pho tượng lớn nhất chùa, cao 2m và cũng là pho tượng duy nhất được tạo tác theo phong cách tạc miền Bắc. Tượng bằng gỗ, đắp đất sét và giấy bản bên ngoài một lớp mõng, sau đó mới sơn son thếp vàng.

Ngoài hai tượng Thiện Hữu, thiện báo và ác hữu ác báo trên chính điện, chùa còn có tượng Hộ Pháp, đặt đối xứng với chính điện, ngay sau bình phong cửa vào chùa. Hộ Pháp là người có uy lực và quyền năng to lớn, có nhiệm vụ hộ trì tam bảo (tức là Phật, Pháp, Tăng).

Là một trong số 5 pho tượng bằng đồng hiếm hoi so với 118 pho tượng thuộc chùa, tượng Cửu Long là một pho tượng quý. Tượng được đúc bằng đồng, pha hợp kim và được nung đen. Phương pháp và nghệ thuật đúc cho thấy phần nào ảnh hưởng kỹ thuật đúc của các pho tượng miền Bắc. Chín con rồng chầu hầu giây phút đầu tiên Phật đản sanh và 13 pho tượng bao quanh. Đó là hình ảnh ghi lại một số nét chính của Phật Thích Ca từ khi sơ sinh đến lúc nhập Niết Bàn, cũng là bốn giai đoạn tầm đạo, chứng đạo, hoằng đạo và niết bàn.

Đặc biệt, trong nghi thức thờ cúng tại các ngôi chùa cổ, cũng như tại chùa Giác Lâm là bộ “Sám bài”. Sám là bái sám và bài là bài vị. Bài vị dùng bái sám này thể hiện rõ nét đặc trưng của cư dân vùng đất mới. Vào những ngày đầu đến sinh sống, người dân có nhu cầu dựng chùa, tạc tượng, cần có thầy cầu an khi đau ốm và cầu siêu khi qua đời, nên bộ sám bài được hình thành từ nhu cầu này, được mang đến nhà Phật tử khi đi cúng. Bộ sám bài được chạm khắc trên gỗ hình ảnh Phật Thích Ca và 4 vị Bồ tát : Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Thế Chí ngồi trên mình thú. Nghệ thuật chạm khắc gỗ đặc sắc, đồng thời còn mang một ý nghĩa lịch sử, là một trong nhữnng dấu ấn đầu tiên của hình thức tín ngưỡng Phật giáo ở vùng đất mới.

Trong quá trình di dân, hành trang mang theo của các thiền sư có thể còn là những pho tượng nhỏ. Tại chùa, từ những ngày đầu thành lập, pho tượng Thích Ca ngồi trên tòa sen, bằng gỗ, nhỏ nhắn này có đường nét và lối chạm khắc cho thấy tượng không được tạo tác tại chùa, với kích thước nhỏ và khuôn mặt mang nhiều đường nét nhân chủng Ấn… là những đặc điểm không thấy phổ biến ở nam bộ giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX. Trước đây tượng được đặt thờ tại chính điện, với phong cách riêng so với một loạt tượng được tạo tác từ ngày lập chùa cho phép đoán định tượng phải có trước và là pho tượng đầu tiên được đặt thờ.

Một trong những pho tượng gây sự chú ý của khách tham quan đến nhà trai là pho tượng Di Lặc. Tượng bằng gỗ mù u, ngồi trên bệ chạm khắc tinh xảo. Đường nét tròn trịa, hài hòa với khuôn mặt tươi vui, phúc hậu, bộc lộ tất cả pháp xã và pháp hỉ, truyền đến người xem trọn vẹn trạng thái ấy qua nụ cười, qua ánh mắt!

ĐẶC ĐIỂM CÁC PHO TƯỢNG CHÙA GIÁC LÂM

Số lượng tượng : Chùa có tất cả 118 pho tượng cổ và mới gồm : Cổ : 7 tượng đồng, 106 tượng gỗ. Mới : 5 tượng bằng xi măng, tượng đồng hiện chỉ còn 5 tượng – hai tượng Nam Tào và Bắc Đẩu bị mất cắp năm 1992, nay được chùa phục chế lại bằng gỗ.

Chất liệu : Đa số được tạc bằng gỗ mít nài, gồm 105 pho, 1 pho bằng gỗ mun (do Phật tử cúng dường). đặc điểm của loại gỗ này là thân rắn, đặc ruột, bảo quản được lâu, ít mối mọt, bên trong màu gỗ có sắc vàng thẫm. Các bộ tượng có kích thước lớn, do vậy thường có dấu nứt của đường thép cây, qua thời gian dài đường nứt rộng ra, chứ không bị mối mọt (sam).

5 tượng bằng đồng : Địa Tạng, Cửu Long, Ngọc Hoàng (chính điện), Quan Âm, A Di Đà (nhà trai).

5 tượng bằng xi măng và sứ tráng men : Địa Tạng (nhà cốt) A Di Đà (nhà nghĩ chư tăng) 2 tượng Quan Thánh (trong khánh, bàn thờ La Hán), Địa Tạng (nhà trai).

Kỹ thuật sáng chế

Đối với tượng gỗ : có hai cách chế tác khác nhau (hai loại kỹ thuật).

Trang trí trực tiếp, chạm khắc trên gỗ : phổ biến ở các pho tượng lớn thuộc chính điện đều áp dụng kỹ thuật này : Quan Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, Thích Ca Mâu Ni Phật…

Dùng các giọt sơn, tia sơn, mảng sơn để trang trí như trường hợp các bộ tượng La Hán (bộ nhỏ), bộ Thập điện (lớn và nhỏ), Hộ Pháp, ông Thiện, ông Ác…

Đặc biệt đối với dạng tượng gỗ, tại chùa có pho tượng A Di Đà (tại chính điện), năm 1909 được trùng tu lại mới với phong cách và kỹ thuật ảnh hưởng nhiều của cách tạc tượng ở miền Bắc Việt Nam : tượng bằng gỗ bên ngoài đắp đất sét, và giấy bản vào một lớp khoảng 5 cm, sau đó mới sơn son thếp vàng lên bên ngoài.

Đối với tượng đồng : Gồm 5 tượng, thể hiện hai phương pháp tạo tác khác nhau :

Tượng được đúc bằng đồng pha hợp kim và được nung đen.

Tượng được đúc bằng đồng pha hợp kim, được sơn son thếp vàng bên ngoài.

Tượng đúc bằng đồng, pha hợp kim và được nung đen : Chùa chỉ có một pho tượng, đó là tượng Cửu Long, đặt tại chính điện. Đây là phong cách tạo tác pho tượng đồng có màu đen phổ biến ở nước ta. Ở Miền Bắc các pho tượng đồng đa số được đúc theo phong cách này.

Tượng đúc bằng đồng pha hợp kim, sau đó sơn son thếp vàng : Đó là phương pháp sử dụng cho các tượng Ngọc Hoàng, Địa Tạng (Chính điện), A Di Đà, Quan Âm (nhà trai).

Một số tượng bằng thạch cao, tráng men bên ngoài : Như tượng Quan Thánh (bàn thờ La Hán), A Di Đà (nhà nghĩ chư tăng) hoặc có tượng bằng xi măng thếp vàng bên ngoài (Địa Tạng tại nhà trai), Địa Tạng (nhà cốt) thì bằng xi măng đắp thạch cao, ngoài sơn màu phủ lên. Tất cả các tượng này do Phật tử cúng trong hời gian gần đây nên phong cách có khác so với các tượng cổ ở chùa.

Niên đại các tượng

Tại chính điện cũng như ở nhà trai, tượng đặt thờ có niên đại khác nhau, chủ yếu gồm hai giai đoạn chính :

Nhóm tượng tạo tác vào thời gian thành lập chùa Giác Lâm(1744), vào giữa thế kỷ XVIII : gồm các tượng gỗ có kích thước nhỏ (bộ La Hán nhỏ, Thập Điện nhỏ…) đó là các tượng mang số 7 đến 9, 55 đến 61, 64 đến 67, 70 đến 76, 85, 87, 88, 90, 91, 99 đến 116.

Nhóm tượng tạo tác vào đầu thế kỷ XIX (1798-1804), vào lần trùng tu thứ nhất tượng được tạc lại, kích thước lớn hơn cho phù hợp với quy mô ngôi chùa mới. Đó là các tượng số 1, 3, 4, 5, 6, 7, 11, 12, 13, 14, 15, 26, 17, 18, 19, 20, 23 đến 36, 38 đến 54.

Các tượng bằng đồng được nhập vào chùa năm nào chưa rõ, nhưng điều chắc chắn là sau ngày lập chùa vì phải đến năm 1757 mới bắt đầu xuất hiện tựong đồng, trước kia chỉ có tượng gỗ. Có thể là từ năm 1757 đến 1804 các tượng đồng Địa Tạng, Phạm Thiên, Nam Tào, Bắc Đẩu, Quan Âm, A Di Đà lần lượt được bổ sung vào.

Nhóm tượng trong khánh, đặt tại nhà trai, mang từ số 92 đến 97, là bộ tượng có tuổi khá cao, so với các tượng gỗ tại đây. Do không được tạo tác và đặt thờ tại chùa từ ngày thành lập, tượng được nhập vào từ một thất của Hòa thượng Hồng Hưng, có lẽ nó được tạo tác từ giữa thế kỷ XVIII, được mang từ miền Trung vào, Bộ tượng Tam thân là bộ tượng hiếm thấy tạc và thờ tự ở Nam Bộ. Tượng đặt thờ trong khánh, là dạng thờ tượng Phật phổ biến của Phật giáo ở Trung Quốc, với quan niệm giữ sự tinh khiết cho tượng thờ, tránh bụi bậm. Hiện nay các chùa theo Phật giáo Hoa tông vẫn còn phổ biến giữ hình thức thờ này.

Tượng có kích thước nhỏ so với người thật, đây cũng là một trong những yếu tố cho thấy tượng chịu ảnh hưởng phong cách tạc ở miền Bắc và miền Trung trước đây. Tại Nam bộ, vào thời gian từ sau cuộc khẩn hoang, tượng Phật thường có kích thước to, bằng hoặc lớn hơn người thật.

Đặc biệt trong số tượng không được tạo tác tại chùa, có tượng mang phong cách rất khác biệt, nhưng đã được đặt thờ tại chính điện cho đến những năm sau ngày giải phóng mới đưa xuống nhà trai (số 98), do thời gian quá lâu nên bị sam. Pho tượng này có thể có niên đại sớm nhất so với các tượng tại đây, có thể được tạo tác vào đầu thế kỷ XVIII, được mang vào chùa theo đoàn người khai hoang. Hiện nay những giả thuyết về việc xác định niên đại và nguồn gốc pho tượng này còn chưa được giải quyết, vì tư liệu thành văn cũng như hiểu biết về pho tượng tại chùa còn thiếu, nhưng có thể nêu một số nhận xét bước đầu về pho tượng giúp xác định phần nào niên đại của nó.

Phong cách tạc mang đường nét nhân chủng Ấn Độ, tượng có kích thước nhỏ, đặt ngồi tòa sen, là những đặc điểm không thấy phổ biến với các tượng ở Nam Bộ thời gian cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.

Tựong đặt thờ tại chính điện, có phong cách riêng so với một loạt tượng tạo tác từ ngày thành lập, cho phép đoán định nó phải có trước và là pho tượng duy nhất đặt thờ, là pho tượng chủ yếu của bàn thờ tại chính điện. Có thể sau khi pho tượng đồng A Di Đà được đặt vào, tược Thích Ca được đặt sang bên, tuy vẫn giữ tại chính điện.

Phong cách điêu khắc, kiến trúc, nghệ thuật.

Do được tạo tác vào những giai đoạn khác nhau, được du nhập từ các nơi, nên các tượng có những phong cách khác nhau. Trong số các tượng được đặt vào cùng giai đoạn cũng có những phong cách khác biệt, những đường nét trang trí, điêu khắc đặt thù cho từng bộ tượng. Tuy vậy cũng có thể thấy rõ hai phong cách nổi bật trong những pho tượng cổ của chùa.

Ảnh hưởng phong cách điêu khắc Trung Hoa đậm nét : Đó là trường hợp bộ tượng La Hán nhỏ và bộ Thập Điện nhỏ. Ảnh hưởng này thấy rõ qua việc cấu tạo nhân dạng, trang phục, trang trí hoa văn, trang sức…

Cấu tạo nhân dạng được thể hiện một phần qua nội dung lịch sử người được tạc, phần khác qua cách thể hiện của người chỉ đạo và nghệ nhân. Nhóm tượng mang phong cách này đều được tạc vào những ngày đầu thành lập chùa (1744), Lý Thụy Long, người đứng ra xây chùa là người Minh Hương, và có thể trong quá trình tạo tác, nghệ nhân cũng có thể là một người Minh Hương. Những đặc điểm vừa nêu góp phần vào việc hình thành phong cách của các pho tượng và không thể không chú ý đến những đặc điểm này.

Từ những sự kiện trên, pho tượng còn mang theo dấu ấn của hàng loạt những điểm nhỏ nhưng góp phần làm rõ các yếu tố nhân chủng (nét mặt thon dài của các tượng La Hán, mắt xếch, nhỏ, mài cong, mũi nhỏ thanh tú, môi mỏng…) áo có cổ cao, nút thắt, tay áo ngắn, quần bó ống… đó là những đặc điểm trong trang phục Trung Quốc, mà hiện nay tại các chùa Hoa vẫn còn thờ.

Đặc biệt với chiếc áo tràng, cách viền nẹp gồm những mảnh vải nối chồng lên ở cổ áo, các đai ngang bụng, quần dây lưng rút, tay đeo vòng hoặc chân mang hài…điều là những trang phục trong triều chính Trung Quốc.

Ảnh hưởng Trung Quốc nhạt dần, các tướng tốt của Phật nổi rõ, là phong cách chủ đạo: nhóm tượng tạo tác vào đầu thế kỷ XIX, hiện là những pho tượng chủ yếu ở chính điện đều đã nhạt dần ảnh hưởng Trung Quốc. Nét mặt tròn, đầy đặn, mình to, khoẻ, ngực nở nang. Cùng với cấu tạo nhân chủng mang màu sắc của người Việt, bộ tượng đặc biệt chú ý đến các quý tướng của Phật. Trong số 32 tướng hảo này, nghệ nhân cố gắng sử dụng tối đa nhằm thể hiện cái “ chất” của tượng. Đó là nhân dạng đã được nghệ nhân “ thánh hoá và Phật hoá”, dái tai dài, nhân trung dài, sâu,  cổ cao ba ngấn, các đốt tay dài, thon thả, các ngón của bàn chân ngang nhau…

Chính vì quá tập trung vào các quý tướng và cố gắng thể hiện cho được các quý tướng đó mà nhóm tượng này đã có sự bất cân xứng về mặt cơ thể học. Người mập, tỷ lệ giữa phần trên và dưới không tương xứng : lưng dài chân ngắn, to…

Trong trang phục tượng đã không còn dáng vẻ Trung Quốc mà là trang phục của những nhà tu hành. Nổi bật trong phong cách nhóm tượng này là bộ tượng La Hán lớn. Áo tràng có nẹp tròn, không thấy hoa văn, không đeo vòng cổ tay, không thể hiện hoa văn ở hài…

Về mặt điêu khắc

Trong số các tượng tròn của chùa Giác Lâm, điêu khắc của tượng thể hiện hai thủ pháp chính:

. Hoàn chỉnh tác phẩm bằng nhát đục, sau đó cạo láng.

. trang trí hoa văn bằng các giọt sơn, tia sơn, nhựa thông…

Từ hai hình thức này, điêu khắc tượng tròn ở chùa mang nhiều chủ đề phong phú, hầu hết đều là chạm nổi, Đắp nổi.

HOA, LA : chủ đề này có hầu hết ở các pho tượng, hoặc dùng trang trí mặt trước bệ tượng, dùng trang trí nẹp áo, tay áo, hoa văn trên áo…

Có nhiều loại hoa khác nhau : hoa cúc (nẹp áo các la hán, trước mặt bệ…), hoa mai (hoa văn trên hài di lặc ở chính điện), hoa sen ( bệ thờ gồm nhiều kiểu khác nhau như cánh nở ngược xuống, cánh lớn nhỏ chen nhau…).

CON RỒNG : đây là dạng hoa văn phổ biến ( thường thấy nhất trong các tượng như thập điện, hộ pháp…). Con rồng được khắc đắp nổi theo nhiều kiểu như : Đầu rồng : trang trí  trên ngực áo thập điện, long vương, hộ  pháp…

Rồng quấn : Thể hiện trêb người các tượng Thập điện Long Vương…

Long ngậm châu : thường trang trí bằng cách khắc đầu rồng, miệng há ngậm trái châu, ở hai bên tay nắm của ngai Long vương, Thập điện…

Long ẩn vân : thể hiện dạng đắp nổi trên áo các vị trong Thập điện, Long vương.

SÓNG NƯỚC : thể hiện trên vạt áo, thường dưới dạng hình núi (bộ tượng Thập điện)

ỐC NỔI : thể hiện trên áo, của các vị trong Thập điện, bộ nhỏ, tượng Hộ pháp, ông thiện, ông ác…

VẢY RÙA : thể hiện trên hoa văn áo Hộ Pháp, khuyến thiện, trừng ác.

CÁ HÓA LONG : bệ tượng hộ pháp.

RÙA CÁCH ĐIỆU : Hoa văn trên áo giám trai thiện thần, tượng đặt tại nhà trai.

LÁ ĐỀ : thường thể hiện trên hoa văn của đai ngang bụng các tượng La Hán, Thập điện…

HÌNH CHỮ NHẬT, TRÒN : thể hiện trên đai, ở giữa bụng. hình tròn ở giữa mão.

MÂY : thể hiện xen lẫn với rồng trong dạng “long ẩn vân”, hoặc “sóng nước”

CHẤM TRÒN : thể hiện trên hoa văn các đường nẹp áo của tượng La Hán.

ĐỒNG TIỀN : thể hiện trên áo của bộ tượng Thập điện, ở hai gối.

Đặc điểm nghệ thuật : với chất liệu là gỗ, các pho tượng tròn chùa Giác Lâm có những đặc điểm trong nghệ thuật, nổi bật như :

Tượng có bố cục hoàn chỉnh, cân đối, hài hòa (bộ tượng thập bát La Hán, thập điện)

Đường cong thanh tú, mềm mại (thể hiện hầu hết ở các tượng nhỏ)

Đậm nét dân gian, nổi bật là bộ tượng La Hán nhỏ với tư thế ngồi thoải mái, không bị ràng buộc theo khuôn phép.

Là mãng khối tròn, trau chuốt cân xứng.

Đó là nét nổi bật của các pho tượng vào giữa thế kỷ XVIII. Sang đầu thế kỷXIX, tượng có nét khác hơn trong nghệ thuật chạm khắc. Nét tạc thô cứng hơn, không sử dụng nhiều  hoa văn đắp nổi, làm cho tượng đơn giản hơn, ít rườm rà nhưng kém mềm mại hơn.

Khi tạc tượng, nghệ nhân không đặt nặng vấn đề cân xứng, mà chú ý nhiều đến các tướng tốt của Phật, làm thế nào thể hiện được chất “thiền”, phản ánh sự ngộ đạo và chứng đạo của tác phẩm. Các tướng tốt được chú ý chạm khắc, nét mặt thô cứng và chân tay bớt vẻ mềm mại, thân thể không cân xứng (lưng dài chân ngắn). Tính cách điệu cao, do vậy thiếu tính hiện thực (bộ tượng La Hán lớn).

Sự thống nhất được thể hiện nhưng không loại trừ tính đa dạng cao trong tác phẩm (bộ tượng Thập điện), với các hoa văn sóng nước ở 10 tượng nhưng không tượng nào giống nhau, mão cũng vậy.

Qua giai đoạn tạc tượng, giữa thế kỷ XVIII, tất cả những công trình giá trị nghệ thuật này có sự góp sức của tổ Viên Quang (giai đoạn 1) và tổ Hồng Hưng (giai đoạn 2) rất nhiều. Tổ Hồng Hưng, người trực tiếp chỉ đạo về kiến trúc, mỹ thuật điêu khắc của chùa đã góp công lớn trong việc hình thành và tôn tạo một di tích có giá trị cao, còn lưu lại như hiện nay. Theo những người am hiểu, đa số tượng tạc vào thế kỷ XIX là do nhóm thợ Cần Đước và Thủ Dầu Một đảm nhiệm.

Tóm lại, tìm hiểu đặc điểm trong phong cách kiến trúc, điêu khắc cũng như giá trị nghệ thuật của các pho tượng chùa Giác Lâm, chúng ta thấy rõ mối quan hệ, giao lưu văn hoá với các nước, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Với Trung Quốc, ảnh hưởng mối quan hệ này đậm nét trên điêu khắc với chủ đề rồng, mây…; với Champa qua hình ảnh tượng Chuẩn Đề có con mắt thứ 3 trên chán, một hình ảnh thường thấy khi biểu hiện các thần,có nguồn gốc từ Bà La Môn giáo ở Ấn Độ. Mặt khác, còn phải kể đến những hình ảnh có gốc gác từ Ấn Độ như biểu tượng hoa sen, lá đề, các tướng tốt  của phật : tóc xoắn (bụt ốc), bạch ngọc hào, nhân trung dài, sâu, cổ cao ba ngấn….

Như vậy, có thể thấy ảnh hưởng đối với các tượng đều có từ hai miền Bắc và Nam. Giai đoạn đầu ảnh hưởng của phía Bắc xuống (trung quốc) có đậm nét, mạnh mẽ hơn; giai đoạn sau chịu ảnh hưởng nhiều của Champa và Campuchia (phía Tây và Nam).

Giá trị lịch sử: Cùng ới những giá trị trong nghệ thuật, kỹ thuật tạc tượng, trong điêu khắc, trang trí hoa văn, trong tính chất và chủ đề tư tưởng thể hiện qua bộ tượng thuộc hai giai đoạn, đã đồng thời làm rõ ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn của các pho tượng tròn chùa Giác Lâm.

Là hiện vật trong ngôi chùa cổ nhất thành phố còn lưu lại đến nay, bản thân các pho tượng cũng đã có tuổi khá cao (hơn 240 năm) so với các tượng cổ khác trong thành phố.

Bộ tượng còn đánh dấu được bước di dân đầu tiên của người việt đến định cư vùng đất mới, trong đó thể hiện được các hình thức thờ phụng và các vị thần trong quá trình lịch sử gần hai thế kỷ qua ở Nam Bộ, giúp người nghiên cứu có điều kiện tìm hiểu, so sánh với các hình thức thờ cúng những nơi khác và vùng đất khác ở trong nứớc cũnh như thuộc khu vực Đông Nam Á.

Nghệ thuật điêu khắc, kỹ thuật chạm, hoa văn trang trí, bộ tượng góp thêm những chứng cứ khoa học trong việc kế thừa và phát huy, sáng tạo những phong cách mơi trong nghệ thuật tạc tượng ở Nam Bộ vào những thế kỹ XVIII và XIX, góp phần khẳng định tính đặc thù, địa phương của vùng đất mới, tính đa dạng, phong phú trong kỹ thuật tạo tác.

Đặc biệt  đối với những loại tượng mới xuất hiện ở Nam Bộ nhưng đã đóng vai trò quan trọng trong nghi thức cúng lễ tại đây như bộ tượng 5 vị (phật và các bồ tát phổ hiền, đại thế chí, quan thế âm, văn thù sư lợi) được tạc dưới dạng “thượng kỳ thú” là một nét độc đáo, sáng tạo, thể hiện tính thực tiễn, tính dân gian nhưng đồng thời cũng cho thấy cả tính triết lý sống động trong việc thể hiện giáo lý, Phật pháp thâm sâu được gối gọn trong hình ảnh 5 vị này.

Trên các mặt vừa kể, giá trị lịch sủ qua các pho tượng tròn còn được tìm thấy ở mối quan hệ giao lưu văn hoá chặt chẽ, với phạm vi trong và ngoài nướchùa. luồng văn hoá từ phía Bắc, cũng như phía tây và phía nam là những luồng chính có tác động lớn đến phong cách, kỹ thuật và phương pháp tạc, điêu khắc, trang trí các pho tượng tròn này. Ảnh hưởng Trung Quốc (phía bắc) Champa (phía Tây) và Campuchia cùng các nước thuộc khu vực Đông Nam Á (phía Nam) đã làm cho các pho tượng thêm vẻ đa dạng, phong phú, đồng thời cũng góp phần khẳng định mốc thời gian, cũng như nồng độ ảnh hưởng đậm nhạt của từng thời kỳ lịch sử.

III. HOÀNH PHI

MỘT SỐ HOÀNH PHI TIÊU BIỂU

Hoành phi ĐẠO MẠCH TRƯỜNG HƯNG

Hoành phi được treo trên bàn thờ chuẩn đề, cao 0,68m, phần giữa cao 0,70m, phần thấp nhất 0,50m, dài 3,52m, bằng gỗ chạm lộng chủ đề “ngũ phúc”. Hoành phi có nẹp viền quanh, nền viền đỏ, kỹ thuật tạo hoành bằng cách ghép gỗ và tra mộng, năm con dơi trải dài đều trên hoành, được phân bố mỗi bên hai con, hướng về con chính ở giữa theo nguyên tắc đối xứng. Chạm lộng sử dụng lối dùng nhát đục. Nền là những vần mây nổi thếp vàng. Phần trên hoành uống răng cưa. Hai bên phải và trái hoành có phần lạc khoản gồm hai mảnh gỗ đỏ chữ nhật dựng đứng, bên phải bảng có kích thước 11x39cm ghi chữ Hán Giác Viên tự Hoằng nghĩa giáo thọ cung nghê. Giác Lâm tự đương vi đường đầu Hòa thượng. Bên trái ghi Lục Hoà liên xã đồng cung tặng. Bảng nền đỏ chữ vàng, kích thước 6x37cm có thể đoán định rằng : bức hoành phi được tạo tác từ sau năm 1920 có thể là vào năm 1922. Vào năm này tại chùa Giác Lâm có mở trường kỳ đôi cặp đối trêo dọc hành lang nhà tổ và nhà trai cho biết điều này. Như vậy bức hoành này được treo vào vị trí trung tâm của các câu đối trên, cùng nằm trong số những tặng phẩm của trường kỳ năm đó. Bức hoành này, theo như phần lạc khoản ghi, do hội “Lục Hoà liên xã” tặng. Hòa thượng Hoằng Nghĩa, vốn là thành viên trong Lục Hoà liên xã, trong trường kỳ tại chùa Giác Lâm năm 1922 là đương vị Hòa thượng đường đầu, được giao nhiệm vụ truyền giới, nên gọi là giáo thọ.

Nội dung hoành : đề tài “Ngũ phúc” là một trong những đề tài phổ biến trong các bức hoành, họa, tranh, giấy hồng điều của người Hoa. Đây là biểu tượng chịu ảnh hưởng của Khổng giáo với năm điều mong ước chính : Đa tử, đa tôn, đa phú, đa quý, khang ninh hoặc có quan niệm khác như Đa thê, đa tử, đa tài, khang, ninh. Nội dung cũng đều thể hiện cuộc sống gia đình có nhiều con, cháu, giàu có và thịnh vượng. Người xưa dùng hình tượng con dơi để tượng trưng cho sự phước báu, vì con dơi âm Hán Việt là bức hình thức viết gần chữ Phúc nên người ta dùng hình dơi để biểu hiện cho phúc.

Các con dơi trên hoành phi : có hình tròn, dài, mập. Tai dài, vành rộng, như hình chiếc lá. Đầu tròn trán dô, trợt. Mắt tròn, to, lòi. Mũi và miệng rộng. Có thể đoán định đây là loại dơi quạ. Hai con ngoài cùng nhỏ, hai con bên trong to hơn. Dơi giữa nằm đầu hướng ra trước nhìn thẳng.

Tai dơi giữa vểnh thẳng, hai mắt cách xa nhau. Trên đỉnh có lằn chẻ hai giữa đầu. Lưng tròn, dài. miệng dơi ngậm vòng tròn, móc vào quai xách của giỏ hoa. Giỏ hình cánh quạt chất đầy hoa mai và lá. Hoa nở xòe năm cánh. Giữa giỏ là cúc đại đóa. Hai cánh dơi dang rộng 50cm, như hai cánh quạt lớn.

Hàng chữ Hán đặt nổi trên cùng bức hoành, theo lối tra mộng, 4 chữ Hán rãi đều trong khoảng cách 5 con dơi. Chiều cao mỗi chữ 40cm, ngang 35cm, dày chữ 2cm, mặt chữ sơn đen, ghi : đạo mạch trường hưng (nguồn đạo hưng thịnh mãi).

Kỹ thuật chạm khắc công phu, tinh tế.

Ở nhà người Hoa nào hầu như cũng có hàng chữ “Ngũ phúc lâm môn”.

Nguyên tắc đăng đối vẫn còn chiếm địa vị chủ đạo, chi phối toàn bộ bố cục bức hoành.

Tuy vậy, không vì thế mà bức hoành trở nên khô cứng, nghệ nhân đã để hồn của tác phẩm vào trong từng đường nét của mỗi con dơi. Không một tư thế con nào giống với con nào. Từ cách nằm nghiêng đến ánh mắt, đến khóe miệng… có con dơi với ánh mắt ngơ ngác hướng về dơi chính, có con nằm ngước cao, hoặc hơi nghiêng một bên, nhưng tất cả đều có nét dịu dàng, hoà nhã, vui tươi và dí dỏm.

Lối chạm khắc nhát đục, tạo những mảng khối tròn, to, thể hiện qua đầu dơi, cái cao, cái thấp, tạo cho toàn bộ bức hoành một nét sinh động, linh hoạt hẳn lên.

Hoành phi BỒ ĐỀ THỌ TRƯỞNG

(Giữa nhà tổ và nhà trai)

Bức hoành chiều dài 1,2m, chiền ngang 0,6m treo phía trong trên cửa ra vào. Hoành phi sơn mài màu đen, chữ đỏ, hai bên chữ vàng ghi chữ Hán : bồ đề thọ trưởng (Phật tính luôn phát triễn). Trên hàng chữ Hán có hàng chữ nhỏ hơn, ghi bằng chữ Việt : Giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam. Dưới nữa là hàng chữ : Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật tử (chữ Việt). Bên trái hàng này là dòng chữ : chúc thọ giới đàn. Bên phải bức hoành, treo hàng dọc là hàng chữ Hán : Giác Lâm Tổ đình tự Bổn sư Hòa thượng Thích Thiện Thuận tái thí giới đàn chi khánh, Tây Quý đệ tử môn hạ. Bên trái ghi :

“Sùng Đức tự trụ trì Thích Thiện Phước

Phước Long tự giảng sư Thích Thiện Nghĩa

Pháp Thạnh tự giáo thọ Thích Thiện Thông

Giác Hải tự Thích Thiện Phước đồng cung hạ”.

Giữa bức hoành ghi năm 1971

Về kích thước, đây là bức hoành có kích cỡ nhỏ hơn các bức hoành ở chính điện và nhà tổ.

Hoành phi TẢ PHẤT VI CHÂN

Từ trong bàn tổ, hoành phi này thuộc lớp trong, từ phải sang trái thuộc số 1, nền đỏ chữ Hán thếp vàng, khắc nổi, hai bức hoành số 1 và số 3 đối nhau. Hàng chử Hán “Tả phất vi chân”. Nội dung câu này rút từ trong kinh Bát Dương, do Cưu Ma La Thập dịch. Phật khai hội thuyết pháp, ông Vô Ngại Bồ tát trực tiếp trao đổi với Phật. “Tả Phúc vi chân” theo nghĩa đen : “Chữ phúc bên trái gọi là chân”. Bên phải bức hoành ghi hàng chữ Hán đọc từ trên xuống : cung hạ Giác Lâm tự viên thành chi khánh. Bên trái bức hoành ghi chữ Hán đọc từ trên xuống : Từ Vân tự thủ tọa Như Trí phụng cúng.

Theo nội dung ghi trên, có thể xác định niên đại bức hoành này vào năm Mậu Thân 1908.

Hoành phi TỔ ẤN TRÙNG QUANG

Dài 1,60m, ngang 9,80m từ phải nhìn sang thuộc số 2, hàng trong. Hoành phi bằng gỗ, nền đỏ chữ vàng, ghi chữ Hán khắc nổi. Hàng chữ Hán : Tổ Ấn trùng quang. Nội dung câu này nói lên sự dạy dỗ thấm nhập vào từ nơi các tổ, được lập lại sáng chói, vinh quang. Bên phải bức hoành ghi dòng chữ : Mậu Thân Giác Lâm tự viên thành chi khánh, bên trái ghi hàng chữ Hán : Sắc tứ Từ Ân tự Như Quang phụng cúng.

Hoành phi HỮU VỆ VI CHÍNH

Chiều dài 1,4m. chiều ngang 0,7m, hoành phi nằm hàng trong từ phải sang trái thuộc số 3. Hoành phi bằng gỗ, nền đỏ, chữ Hán thếp vàng, khắc nổi, hàng chữ Hán : Hữu vệ vi chính. Câu này hợp với bức hoành số 1 tạo thành một cặp đối. Nội dung chữ “vệ” bên hữu kêu là “chính”. Theo kinh Bát Dương : “Luận như trong trời đất đây, những hình tượng vạn hữu, thì duy có con người tối linh trên muôn vật, luận chữ nhân là chơn, ấy là làm con người, phải có chơn tâm, không tưởng quấy, thân này thi hành mỗi việc đều chính trực. Cho nên chiết tự chữ chơn đó coi thì chữ phúc bên tả gọi là chơn còn chữ vệ bên hữu kêu là chánh, mình thường làm việc chánh chơn nên kêu là chữ nhơn”. Bên trái bức hoành ghi dọc xuống hàng chữ Hán nhỏ : Phước Hòa đường đạo tràng phụng cúng. Bên phải bức hoành ghi hàng chữ : Cung hạ Giác Lâm tự viên thành chi khánh.

Căn cứ theo nội dung trên, có thể xác định hoành phi này được chạm khắc vào năm Mậu Thân 1908.

Hoành phi CẢNH TỰ TRƯỜNG XUÂN.

Treo trên bàn thờ Tổ, từ ngoài nhìn vào thuộc lớp ngoài, từ phải sang trái thuộc lớp 1. Bức hoành bằng gỗ, nền đỏ, chữ vàng, khắc nổi, chữ Hán : Cảnh tự trường xuân (Cảnh đẹp hai bên tươi tốt mãi). Br6n phải ghi hàng chữ : Giác Lâm tự Hoằng Nghĩa đường đầu Hòa thượng. Bên trái ghi : Phước Hòa đường, Sắc tứ Cảnh Phước tự Bảo Ngọc thư ký, Tân An Khải Phước tự Bảo Tuyên thư ký đồng phụng cúng. Hoành này có thể được tạo tác vào năm 1922.

Hoành phi PHẬT PHÁP TRƯỜNG HƯNG

Treo trên bàn thờ Tổ, thuộc lớp ngoài, từ phải sang trái thuộc số 2. Hoành phi bằng gỗ, nền đỏ, chữ Hán vàng, khắc nổi : Phật pháp trường hưng (Giáo pháp Phật hưng thịnh mãi). Bên phải hoành ghi dọc hàng chữ Hán : Hoằng Nghĩa đường đầu Hòa thượng. Bên trái ghi dọc hàng chữ : Long Thạnh tự Quảng Chơn yết ma phụng cúng. Bức hoành có thể được tạo tác vào năm 1922.

Hoành phi ĐẠO TRÀNG VĨNH THỊNH

Treo trên bàn thờ tổ phía ngoài, từ phải nhìn sang thuộc số 3. Hoành phi bằng gỗ, nền đó, chữ Hán vàng, khắc nổi : Đạo tràng vĩnh thịnh (nơi tụ tập hành đạo thịnh vượng mãi). Bên phải ghi : Giác Lâm tự Hoằng Nghĩa đường đầu Hòa thượng. Bên trái ghi : Từ Vân tự Chánh Truyền yết ma, Minh Phước tự Chân Như đại sư, An Phúc tự Huệ Phú đại sư đồng phụng cúng. Bức hoành có thể được tạo tác vào năm 1922.

HOÀNH PHI TẠI NHÀ GIẢNG GIÁO LÝ

CUỐN THƯ (Treo bên phải từ ngoài nhìn vào)

Chiều dài 1,28m, chiều ngang 0,50m. Hoàng có hình dáng một cuốn thư đang mở chạm khắc hoa văn nổi, có sử dụng đắp nổi, nền đen, đỏ, thếp vàng các hoa văn chạm nổi và đắp nổi. Nội dung hoành từ phải sang trái : Viền quanh bức hoành là hoa văn hình học xen lẫn bên trong dây hoa lá. Một phần giỏ hoa chẻ dọc xuống. Hoa văn trên giỏ hoa theo lối ô vuông, thếp vàng chạm nổi. Nhiều loại hoa cánh nhỏ và cành lá. Bên trên là hình chim, tư thế đang bay, một chân co, một chân duỗi, vờn trên giỏ hoa. Phần hoành này nền đỏ, thếp vàng.

Phần hoành kế tiếp là khối tròn, dài, chạm nổi cao 5cm, ngang 10cm, dài 45cm, dạng quyển sách đang cuốn. Phần đầu trên ống, được vạt lõm vào, thể hiện dạng cuốn thư, phía ngoài hai đầu có hoa văn hoa lá, búp hoa, được đắp nổi và chạm. Phần chính là dạng hoa văn hình học ngang dọc, chạm nổi, thếp vàng, nền đỏ. Ở giữa, một góc trái có hình nữa vòng tròn, xung quanh những tia sóng nước tròn thành hai lớp, lớp trong kín, thành 8 cuộn xoáy trôn ốc. Phía ngoài, vòng to hơn thành 3 cuộn cong. Bên ngoài viền đắp nổi hai đường mảnh.

Phần Ba có kích cỡ 44x24cm, hai đầu nền đỏ, giữa nền đen. Phần trên có hoa văn hoa lá làm đường viền cho hoành. Quy tắc đối xứng, một cánh hoa nở ở giữa nổi cao, hai bên là hai dây hoa lá và hai nơ. Một vài cánh hoa nhỏ, bốn cánh điểm thêm. Phần dưới chạm khắc răng cưa làm đường viền, trên đó là con rồng cách điệu, nền đỏ, chạm nổi thếp vàng. Một đoạn hoa văn hoa lá bên trên, nền đen thếp vàng, đắp nổi các đường dây hoa mảnh mai. Đường viền của phần này là hoa văn mây nổi.

Khoảng giữa phần lớn nhất là một chùm hoa văn khắc nổi, thếp vàng trên nền đen, cảnh chiếc xe hai bánh gỗ chất đềy hoa. Trên nền giỏ và thân xe, kỹ thuật chạm nổi và thếp vàng dày đặt theo hoa văn kỷ hà, thể hiện nét tinh tế, sống động. Phần trung tâm của cuốn thư có hình lục giác. Đầu miệng ống là hoa văn hổ phù lớn, viền quanh miệng trên, và dưới là hoa văn đắp nổi ở các mặt. Mặt trước chính giữa là hoa cúc lớn (trên và dưới), dây hoa lá hai bên. Phần thân của cuốn thư là bài thơ chữ Hán, khắc nổi, xung quanh bài thơ có hoa cúc dây, liên (biểu tượng trong bát bửu của Khổng giáo), làm đường viền. Phần 5 có cùng môtíp với phần 3 theo nguyên tắc đối xứng, chỉ khác ở hoa văn chính, chiếm diện tích lớn nhất. Hoa văn này gồm hoa, bướm, đàn tỳ bà. Phần 6 cùng môtíp với phần 2, theo nguyên tắc đối xứng. Phần 7 cùng môtíp với phần 1, chỉ thay đổi hoa văn từ con chim sang con bướm.

CUỐN THƯ (Bên trái từ ngoài nhìn vào)

Cùng kích cỡ và cấu tạo với cuốn thư bên phải, nền đỏ, đen, thếp vàng theo lối đắp hoặc khắc nổi. thay đổi hoa văn ở phần 2, 6 và phần 3, 5.

Phần 2, 6 bông hoa có cánh nhỏ, thếp vàng trên nền đỏ, hai đầu viền hoa văn nền đen. Phần 3, 5 : phần 3 gồm : Giỏ đựng hoa, hộp đựng báu vật; phần 5 gồm : giỏ hoa, cuốn thư, quản bút. Cuốn thư bị mất một số hoa văn đắp nổi ở phần 1, chân của phần 2, 6, 3, 4, 5 và hoa văn phần 7. Bài thơ ở phần 4 (phần giữa của cuốn thư mang âm hưởng ca tụng cảnh thiên nhiên, nhuốm màu sắc Khổng giáo trong bài thơ). Các hoa văn hổ phù, liên, cuốn thư, đàn tỳ bà, rồng, quản bút… đều là những biểu tượng theo tinh thần Khổng học. Về niên đại, hai cuốn thư được tạo vào năm Quý Mão, chưa rõ năm nào, có thể là năm 1903. Nội dung chữ Hán trên cuốn thư ghi : Quý Mão niên (phải), Tống hữu Phước hạ (trái).

Bên trái: Nguyệt lạc mai vô ảnh, Phong lai trúc hữu thinh (Năm Quý Mão mùa xuân trăng lặn, mai không có bóng. Trúc cọ nhau như đàn cầm, trăng lặn, mai khuất bóng, gió về trúc vi vu).

Bên phải : (Từ trong nhìn ra) Quý Mão niên xuân, Nguyễn Hữu Văn hạ “Trúc ảnh phân kỳ cuộc, mai hoa diệu pháp bàn” (Hoa mai dựng bàn pháp, bóng trúc chia thế cờ), (về nghĩa sử dụng điển tích gì chưa rõ). Bên trái và phải đều viết theo kiểu chữ thảo.

Hoành phi VĨNH THÙY ĐỨC TRẠCH

Treo trên nóc nhà giảng giáo lý hiện nay, quay vào lớp học, bức hoàng dài 2,00m, ngang 1,00m. Hoành bằng gỗ chạm khắc nổi khắp trên mặt hoành, chồng nhiều lớp lên nhau. Lớp chạm khắc nổi phía dưới hình ô học, chìm nổi, thếp vàng. Trên đó là hàng chữ Hán : VĨNH THÙY ĐỨC TRẠCH. Nội dung câu chữ Hán nói lên ân đức của bậc tiền bối, của tổ sư thấm nhuần cho đời sau mãi mãi. Xung quanh bức hoành viền nổi 10cm, gồm 6 rồng và hoa cúc dây. Phía trong phần viền này còn có một lớp viền nhỏ hơn trang trí hoa dây, khắc nổi, giữa mỗi cạnh có điểm một hoa mai. Hàng chữ Hán khắc nổi màu đen trên nền thếp vàng. Xung quanh 4 chữ Hán theo chiều ngang, bưc hoành còn được trang trí 10 vât bửu bối, làm thành hai hàng thẳng, hàng trên 5 vật, hàng dưới 5 vật. Theo thứ tự từ trên xuống và từ trái qua phải có : sừng tê giác, hoa, hai đồng tiền có lỗ tròn, quạt ba tiêu, bình hồ lô (hàng trên), hàng dưới có : bình hồ lô, hộp, cuốn thư, bút, sừng tê giác. Bình hồ lô và sừng tê giác được lặp lại và được phân bổ ở 4 góc hoành, xếp chéo nhau. Những vật bát bửu này mang ảnh hưởng vừa thuộc bát bửu của Đạo giáo vừa thuộc Phật giáo. Bên phải bức hoành ghi dọc hàng chữ : Tuế thứ Kỹ Dậu niên, xuân ngoạt, kiết đán. Bên phải ghi hàng chữ : Mộc Ân đệ tử đồng kính. Có thể đoán định niên đại bức hoành là vào năm 1909.

ĐẶC ĐIỂM HOÀNH PHI CHÙA GIÁC LÂM

Toàn bộ chùa có 23 bức hoành phi. Hầu hết các bức hoành này đều được các nơi (chùa, Hòa thượng, Phật tử, các quan chức trong vùng…) gửi đến biếu cúng nhân dịp chùa có trai đàn, cúng lễ lớn, đặc biệt là các lễ lạc thành sau hai lần trùng tu.

23 bức hoành được phân bố tại : chính điện 4 bức, nhà tổ 6 bức, dọc lối đi (hành lang nối nhà tổ và nhà trai) 6 bức, nhà trai 3 bức, nhà giảng giáo lý 4 bức.

Đa số hoành đều bằng gỗ, ngoại trừ có 3 bức được tạo tác giai đoạn muộn sau này bằng sơn mài (gian giữa lối đi nối nhà tổ với nhà trai). Đối với hoành gỗ, có vài cách chế tác khác nhau : Mặt phẳng, khắc nổi chữ Hán, mặt khắc nổi hoa văn, khắc chồng chữ Hán lên trên, chạm lộng, đắp nổi chữ Hán lên trên (hoành trước chánh điện, trên bàn Di Đà, nền gỗ, cẩn ốc lên trên, theo dạng các chữ Hán, mặt hoành trơn, chạm nổi hoa văn xung quanh đường viền (chồng lên hai lớp hoành ở nhà giảng giáo lý, chạm nổi toàn mặt hoành, trên đó tạo đường viền xung quanh, thành hai lớp viền trong và ngoài. Các bức hoành sử dụng lối sơn mài và khắc chữ lên trên, không có hoa văn.

Hoành phi đa số đều dâng cúng, nhiều nguồn cung cấp khác nhau. Tuy nhiên có một số hoành cùng một niên đại. Chủ yếu gồm các giai đoạn : Từ khi thành lập chùa (1744), lần trùng tu thứ nhất, lễ chúc thọ Hòa thượng Minh Vi 1894, lần trùng tu thứ hai (1900 – 1909), năm 1969, năm 1971-1973.

Trong chạm khắc, hoành phi cho thấy còn ảnh hưởng phong cách Trung Quốc rất đậm. Ảnh hưởng này thể hiện qua tên gọi, co chữ viết, và hoa văn trang trí. Hoành phi nguyên nghĩa của nó là bảng nằm ngang. Đa số chữ viết chính và phụ đều bằng chữ Hán, lối viết và treo các câu từ phải sang trái, viết dọc từ trên xuống. Hoa văn trang trí trên hoành gồm có hoa dây, rồng, hình ô học, hình kỷ hà… là những dạng hoa văn thường gặp trong các nghi lễ cung đình, nơi trang nghiêm. Hoa văn thể hiện bửu bối trong bát bửu còn có sự phối hợp ảnh hưởng của Đạo giáo và Phật giáo.

Nghệ thuật cẩn ốc trong hoành phi nói lên giai đoạn thịnh trị của lối trang trí này dưới triều Nguyễn. Ngoài các hoành phi còn có bàn thờ, ghế, tràng kỷ thuộc giai đoạn này cẩn đắp.

Trong số các bức hoành này có một số ít hoành được chạm khắc tinh vi, như một bức ở chính điện, 1 ở dãy hành lang nối nhà trai và nhà tổ, 1 ở nhà giảng giáo lý.

một số ít hoành phi có niên đại muộn sử dụng lối sơn mài, đã có sự phá vỡ phong cách cũ, trong nội dung đã đưa vào một ít chữ Việt, năn tháng tạo tác. Càng về sau này, hoành phi không chú trọng nhiều vào hoa văn trang trí mà ở nội dung chủ đề và người, nơi dâng cúng.

Các bức hoành thể hiện được phần nào nội dung tư tưởng muốn truyền đạt cho khách tham quan, đồng thời cũng thể hiện tấm lòng, trình độ, năng lực của người dâng cúng. Toàn bộ các bức hoành có giá trị lịch sử, góp phần nói lên phong cách nghệ thuật, ảnh hưởng của chùa chiền trong giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến nay. Hoành phi này cũng góp phần vào việc chứng minh cho sự mờ dần của ảnh hưởng Trung Quốc qua các hiện vật, cũng như trong tư tưởng người biếu cúng. Nó nói lên một số mốc thời gian quan trọng của chùa qua năm tháng còn lưu giữ được trên mặt hoành. mặt khác,về mặt giao lưu văn hoá, ảnh hưởng của tư tưởng Lão, Khổng đã có dấu ấn qua một số hoa văn, đã nói lên tính “tam giáo đồng nguyên” của giai đoạn này và đặc biệt là tính chất dung hợp cao của Phật giáo ở Việt Nam cũng như ở Nam Bộ.

IV. BAO LAM

Một số bao lam tiêu biểu:

Tại chính điện, nghệ thuật chạm khắc gỗ còn được thể hiện trên các bao lam bàn thờ. Trên nền gõ đỏ, bàn thờ được chạm khắc là bàn nhị cấp, với nhiều đề tài phong phú về hoa, lá, thú vật, chim muông… đề tài “sóc giác” tuy được thể hiện trên các phù điêu, nhưng chỉ với ở bao lam bàn thờ đề tài này mới diễn tả được trọn vẹn đường nét sinh động và dí dỏm. đây là những chú sóc nhỏ nhắn đang thèm thuồng đến gần những quả giác. Kia là những chú chim đang vừa thưởng thức hương vị thanh tao nhưng cũng đầy vị chua chát của quả giác lại vừa ôm cả chùm giác vào lòng! Và hình ảnh con chim đang ăn sâu thật đẹp! trong chùm hoa lá xum xuê đó, nghệ nhân đã điểm vào bối cảnh tươi đẹp nên thơ này một con sâu lơn1 nét hiện thực đó đã làm cho tác phẩm vượt  lên và đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. những đoá mai nở tung hết cánh, khoe sắc dưới ánh nắng xuân, nhưng nghệ nhân không quên trong bầu không khí êm ả của ngày đầu năm ấy, làn gió xuân hây hây thổi đã làm phủ xuống một vài cánh hoa sắp héo tàn. Và nổi bật hơn hết, các bao lam bàn thờ này đã tự nói lên vùng đất Nam Bộ đầy đủ nhất bằng hình ảnh những đoá mai đang nở ấy!

Vượt thoát ra ngoài những ước lệ để thể hiện tính hiện thực cao nhưng không quên trở về với khuôn mẫu, với lề luật qui định. Đó là những con rồng, con phượng. Phải là một nơi tôn nghiêm, cao quý mới có rồng ngự. Nhà dân không được chạm khắc. Thân thuộc nhưng trang nghiêm, gần gũi nhưng tôn kính! Đấy là những hình ảnh khắc họa trên bao lam thể hiện giai đoạn chuyển tiếp của hai phong cách chạm khắc, đồng thời cũng là những ước vọng của nghệ nhân truyền đạt đến người thưởng thức qua hơn nữa thế kỷ nay, một chân lý về nếp sống đạo và hành đạo, đó là sự dung hợp giữa đạo học siêu việt và đời sống bình thường, giữa chân đế và tục đế!

Toàn chùa có 9 bao lam thành vọng, nhưng một trong những bao lam gây được sự chú ý nhiều nhất có lẽ là bao lam Cửu Long. Cuối hai đầu bao lam, chữ “Sơn” được chạm khắc cách điệu, tạo hoa văn trang trí nhưng cũng góp phần thể hiện vị trí của các con rồng đang trên núi cao, dạng “Long ẩn vân”. Chín con rồng được chạm lộng trong mây, có sự phá lệ trong phân bố. Rồng có râu dài, nanh, vảy, vuốt đều được chạm rất sắc sảo. Mình thẳng không uốn cong hung tợn như rồng Trung Quốc. Ở đây, con rồng được thể hiện mang đường nét dịu dàng, thuần thục, đang phun nước chầu hầu vào những giây phút đầu tiên Phật đản sinh, mà cũng là biểu tượng cho vùng đất nông nghiệp, mưa thuận gió hòa, vùng sông nước Cửu Long Nam Bộ!

Ngoài hình ảnh con rồng, tại chính điện còn có hai bao lam diễn tả theo chủ đề mộc-điểu, trúc-điểu và tứ quý. Để hoàn chỉnh tác phẩm, nghệ nhân đã sử dụng hai phương pháp chạm khắc trong cùng một bao lam : lối dùng nhát đục cho phần trên xa và lối tế kiểu cho tầm nhìn gần, đặc biệt là để thể hiện  sự mảnh mai của lá trúc. Con chim là chủ đề rõ nét trong bao lam, sinh động nhất là đôi mắt. Mắt nhỏ không chạm nổi, mà được khắc chìm,tạo một lỗ tròn sâu hun hút nhưng lại lộ rõ lòng đen nhánh. Trên cành trúc, những chồi non đang nhú diễn tả được mức độ hiện thực cao. Cúc đại đóa, hoa mai với nhiều lớp cánh chen nhau, tạo sự tươi mát. Bên cạnh những nụ hoa chưa nở, có những cánh hoa đang hé nụ và bên cạnh là những bông hoa đã nở tròn hết cánh! Cùng trong một không gian nhỏ hẹp, nghệ nhân đã đưa người xem đi trọn chuỗi thời gian vận hành của một loài thực vật; có sinh thành, phát triễn và tàn lụi! Bố cục theo lối đối xứng, ước lệ xưa cũ đã bị phá vỡ với hình ảnh chim rình bắt cào cào, chỉ một con duy nhất trong toàn bộ bao lam.

Tại nhà tổ có 6 bao lam chạm lộng nhưng nổi bật nhất vẫn là bao lam tứ linh đặt tại bàn Tổ giữa. Long, ly, quy, phụng được sắp xếp đều trên bao lam. Con rồng dạng lưỡng long chầu nguyệt, với hai chim phụng hai bên. Con rùa trong tư thế vươn lên mang nhiều ý nghĩa, vì ngoài biểu tượng của sự trường thọ, rùa còn dùng để ví với những linh hồn mang nặng nghiệp chướng, chưa được giải thoát. Hình lân hí cầu. đề tài tứ linh đặt ở đây tượng trưng cho Phật pháp trường tồn, tổ ấn trùng quang và tông phong vĩnh trấn. dưới cùng bao lam là những nét sinh động, tránh thô cứng, bằng cách điểm vào tác phẩm một vài nét chấm phá.

Như vậy, qua nội dung đề tài và phong cách sử dụng cho thấy ngoài chức năng dùng trang trí cho ngôi chính điện và nhà Tổ được lộng lẫy, bao lam còn góp phần thể hiện sinh động giáo lý nhà Phật. những biểu tượng cao siêu, những tinh tuý đã được nghệ nhân tiếp thu và thể hiện qua tác phẩm dưới bàn tay khéo léo, và tấm lòng mộ đạo sâu sắc.

V. PHÙ ĐIÊU

1.Một số phù điêu tiêu biểu

Ngoài việc làm nền cho các câu đối, phù điêu trên cột cũng gây được sự chú ý và phải thứa nhận rằng qua các phù điêu, tính chất dân gian của Phật giáo Nam Bộ được nổi rõ. Đây là phù điêu chủ đề Bát tiên, Thập Bát La Hán, rồng phượng…đề tài có tính ước lệ và trang nghêm này được dặt có chủ ý hai bên bàn thờ chính điện. còn xung quanh và  ở những gian khác, phù điêu được chạm khắc bằng những đề tài dân giã. chủ đề sóc- giác là chủ đề gần gũi với ngoại cảnh chùa. phải chăng những dây giác dại còn lưu lại đến nay bên góc các ngọn tháp đã gợi ý cho nghệ nhân khi chọn đề tài này? Và phải chăng ngoài ý nghĩa cao siêu của tên gọi Giác Lâm là rừng giác ngộ thì còn một nghĩa khác, cụ thể và nôm na hơn là một rừng cây giác bao quanh nơi đây khi vị Thiền sư đầu tiên là Viên Quang về trụ trì? Hình ảnh các chú chuột cắn đuôi nhau, bò trên những dây dưa, dây bí và những chú bướm đang đi tìm hoa hút mật; những con rồng chạm khắc tinh xảo, những chú chim và những cánh hoa sen… cho thấy ở đây, cái cao xa và dương như không thật có – là con rồng - được hoà quyện với hình ảnh thật trong cuộc sống; làm cho người xem đi đến nhận thức sánh với niềm tin và tín ngưỡng Phật giáo. đối với cư dân vùng đất mới, đạo Phật ở đây đã được bình dân hoá và  được đưa trở về gần gũi hơn với cuộc sống con người! từ tính hiện thực đó, nghệ nhân đã có sự sáng tạo, đồng thời đã phá vỡ tính cách ước lệ, đăng đối từng cặp trong chủ đề để làm cho đề tài càng sống động hơn, tươi mát và hiện thực hơn. cuộc sống đang diễn ra và trôi đi liên tục không ngừng  nên không thể có khung cảnh đứng im, khô cứng, và do vậy phải có hình ảnh của chú chim sâu ngậm cào cào trên chiếc mõ nhỏ xíu của mình; những chiếc lá bầu không còn nguyên vẹn vì thực tế đã bị những con ong bầu tìm đến! và còn nữa, nếu như có hình ảnh một cánh chim đang trong tư thế sắp bay đi, thì bên cạnh đó cũng là hình ảnh một cánh chim vừa đáp xuống! cào cào hay chuồn chuồn đang giãy chết trên mõ chim là “ tiếng nói” sinh động nhất của cuộc sống, là hìnhb ảnh tiêu biểu nhất về bản năng sinh tồn! và trong phút chốc, khung cảnh dân gian Nam Bộ bỗng hiện ra đầy đủ và rực rỡ dưới đường nét khéo léo của nghệ nhân, đã giúp cho gian chính điện vừa trang nghiêm nhưng cũng đầy ấp tình cảm gắn bó với quê hương , đất nước.

2. Đặc điểm các phù điêu:

Toàn bộ phù điêu đều được chạm nổi trên cột, trang trí cho cột và làm nổi bậc các câu đối khắc chìm hoặc nổi trên thân cột.

Phù điêu được chạm khắc nổi trên các hàng cột tại chính điện, nhà tổ, nhà trai.

Các phù điêu đều có kỹ thuật chạm khắc tinh tế, mang tính cách điệu cao.

Nổi bậc ở các phù điêu chính là bố cục và nội dung đề tài thể hiện phong phú, có các đề tài chính :

Thập Bát La Hán                     Dơi, nai

Chuột cắn đuôi nhau                 Hoa sen

Dây hoa lá                               Cúc

Trái bầu, bí                  Chim bắt chuồn chuồn

Bướm hoa                    Long ẩn vân

Bát tiên                        Cửu Long

                                    Sóc – giác

Niên đại các phù điêu này có thể được đoán định cùng lúc với việc chạm khắc các câu đối trên thân cột và sau lần trùng tu chùa lần thứ nhất.

Phong cách nghệ thuật chạm khắc mang ảnh hưởng của lối chạm khắc nổi giai đạon thế kỷ XIX, đề tài quen thuộc, chú ý đến sự đối xứng trên các cột với nhau, bằng cách hai cột đối xứng có chung một đề tài. Bên cạnh những chủ đề khuôn sáo sẵn có, nghệ nhân đã có sự phá lệ, cố gắng đưa vào tác phẩm âm hưởng của chât dân gian Nam Bộ (dây bầu bí, chuột, chuồn chuồn…), điều này tuy không nhiều nhưng đã nói lên được sự mở đường trong nghệ thuật chạm khắc gỗ ở Gia Định, một phong cách mới, mang tính hiện thực, thể hiện sự sáng tạo trong điêu khắc.

Các phù điêu trên thân cột tại chùa, do chức năng làm vật trang trí của nó, nó cũng đem lại một ý nghĩa lịch sử nhất định; cho thấy ảnh hưởng các luồng tư tưởng của Nho, Phật, Lão vẫn còn dấu ấn trong tâm thất người Việt vùng đất Nam Bộ (chủ đề Bát Tiên, La Hán, Long ẩn vân) đồng thời cũng nói lên phần nào cá tính người dân ở đây là yêu thiên nhiên, có óc thực tế, và mang chất dân gian hơn.

VI. LIỄN ĐỐI

1.Một số câu đối tiêu biểu :

Một trong những cặp đối gây được sự chú ý của khách tham quan, và các nhà nghiên cứu Hán Nôm có lẽ là hai câu :

Triêu triêu triều, triêu triêu bái, triêu triêu triều bái

Tề tề trai, tề tề giới, tề tề trai giới”

Cao Tự Thanh dịch là :

(Người người chầu, người người bái, người người chầu bai

Thảy thảy trai, thảy thảy giới, thảy thảy trai giới)

(Trên điện đại hùng nói ba thời kinh, chúc tuổi thọ quân vương, cầu dân an nước thịnh.

Trong đài vạn pháp thuyết tứ đế lý, đáp ân thâm Phật tổ, nguyện mưa thuận gió hòa).

(Huệ Chí dịch)

Phần lạc khoản cặp đối ghi :

“Gia Long tam niên Giáp Tý thái tuế trọng đông kiết đán”

“Mộc Ân đệ tử thiện tín chúng đẳng ohụng cúng khẩn bái”

- Tại nhà tổ, cặp đối gợi lại cuộc sống đạo của tu sĩ trong chùa, cảnh quan chùa Giác Lâm ở buổi đầu thành lập. Đó là hình ảnh của một ngôi chùa ẩn mình trong cây lá, thanh tịnh, yên ắng, ngày ngày các tu sĩ có mây trời làm bầu bạn :

“Tự cổ tăng nhàn thường dẫn yên hà vi bạn lữ

Sơn thâm thế cách chỉ bằng thảo mộc ký xuân thu”

(Chùa cổ tăng thiền thường với khói mây làm bầu bạn

Non thâm đời khách chỉ nhìn cây cỏ định thời gian).

-Ở nhà trai, hai bên bàn Chuẩn Đề, cặp đối cho biết việc khai mở trường kỳ tại chùa vào năm 1922, sự tham gia giới đàn của hội Lục Hòa liên xã và chữ đầu của pháp danh ba vị tổ trong giới đàn :

“Từ hải viên thông khải tam hoàng quang huy châu pháp giới

Thanh phong Hoằng đạo khai thất tụ phổ thí độ nhân gian”.

Phần lạc khoản ghi : “1922 Liên xã Lục Hòa Phụng Sơn tự, Bửu Lâm tự, Tứ Phước tự thủ tọa đồng khể thủ”

Ba chữ TỪ, THANH, HOẰNG chính là chữ đầu pháp danh của ba vị : TỪ PHONG (chùa Giác Hải), HOẰNG NGHĨA (chùa Giác Viên), và THANH ẤN (chùa Từ Ân). Chư tăng và Phật tử Gia Định, Chợ Lớn, Lục tỉnh tôn xưng các ngài là Tam Hoàng (Tam sư trong giới đàn).

Cặp đối do hội Lục Hòa liên xã tặng.

2. Đặc điểm của liễn đối chùa Giác Lâm :

-Toàn bộ chùa có 86 câu đối được treo dưới dạng liễn hoặc khắc hẳn vào cột gỗ, làm nền trang hoàng cho phần bên trong chùa. Ngoài ra, tại cổng tam quan cũng có hai câu đối khắc nổi trên nền ximăng do ông Huệ Chí đặt.

Số lượng câu đối được phân chia theo các nơi trong chùa như sau : Hành lang bốn câu liễn, chính điện 16 câu đối khắc chìm và nổi (trong đó có bốn câu dạng liễn, gồm hai khắc chìm, hai khắc nổi, còn lại 12 câu đối khắc chìm vào cột). Nhà tổ 22 câu đối (tám câu đối khắc chìm vào cột, 14 liễn khắc chìm). Nhà trai 20 câu (12 liễn khắc chìm, tám câu đối khắc chìm vào cột). Nhà giảng giáo lý : 24 câu đối (4 liễn khắc chìm, 4 câu đối khắc nổi vào cột ở hành lang, 16 câu liễn khắc chìm).

Chất liệu : Câu đối dạng liễn thường khắc chìm trên bảng gỗ, nền đỏ, thếp chữ vàng. Câu đối khắc trên cột thường là dạng gỗ sao.

Kỹ thuật chạm khắc : Các câu đối được chạm khắc theo nhiều cách viết khác nhau. Tuy được khắc trên gỗ nhưng nét khắc tinh sảo, nét móc mãnh dẽ, sắc. Lối khắc chìm đa số trên cột và liễn. Ngoài ra còn có lối khắc nổi trên cột và liễn. Cột liễn có dạng mặt bằng, khắc chìm trên liễn dạng cong treo vào cột.

NIÊN ĐẠI CÁC CÂU ĐỐI :

Các câu đối có niên đại rất khác nhau, do được cung tặng nhân dịp chùa có đại lễ Trường hương, Trường kỳ… căn cứ vào phần lạc khoản, có thể đoán định niên đại các câu đối này.

Các câu đối ở chính điện được tặng nhân kỷ niệm ngày lạc thành, kết thúc đợt trùng tu chùa lần thứ hai, vào năm Kỷ Dậu (1909)

Các câu đối ở nhà Tổ được tặng nhân dịp Trường kỳ năm 1922, do nhom “Lục Hòa liên xã” gởi đến.

Các câu đối ở nhà trai cũng do “Lục Hoà liên xã” gởi tặng nhân trường kỳ năm 1922 do chùa Giác Lâm khai mở.

Các câu đối ở hành lang và nhà giảng thường do Phật tử đem gởi, giai đoạn có chiến tranh chống Pháp, Mỹ.

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT : Thể hiện phong cách nghệ thuật Trung Hoa. Ảnh hưởng này nằm ngay trong bản thân chữ viết cũng như qua màu sắc làm nền của câu đối. Đối với người Hoa, màu đỏ là màu của sự may mắn, màu đen là màu của sự trang trọng. Hai màu sắc đen, đỏ là hai màu chủ đạo, làm nền cho toàn bộ các câu đối. Một số câu đối treo tại các hàng cột chủ yếu gần nơi thờ tự chính, được trang trí thêm bằng những phù điêu làm đường viền. Lối trang trí này vừa làm tôn lên nội dung câu đối, vừa thể hiện một số chủ đề quen thuộc trong Phật giáo như đề tài Thập Bát La Hán, xen lẫn đề tài Khổng Giáo như Bát Tiên, Tứ Linh, Tứ Quý… một đôi liễn cẩn ốc sà cừ thể hiện phong cách nghệ thuật phổ biến ở triều Nguyễn. Ngoài những dạng phong cách chạm khắc kết hợp với phù điêu và lối khắc chìm, nổi, nghệ nhân còn thể hiện lối sáng tạo bằng cách trang trí thêm hoa văn ngay trên câu đối hoặc câu liễn tạo nét vui tươi, bớt đi vẻ khô cứng.

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ : Qua nội dung các câu đối được phân bố phù hợp với vị trí của nơi thờ tự cho thấy ngoài chức năng trang hoàng, làm nền cho khung cảnh bên trong chùa, câu đối còn mang chức năng khác, quan trọng hơn, là góp phần thể hiện tư tưởng giáo lý, phương cách sống đạo và hành đạo của chư tăng trong thiền đường, góp phần lớn vào việc tăng cường tính giáo dục, lối sống đạo cũng như hành đạo.

Nội dung các câu đối còn cho thấy hoài bão của các tu sĩ Phật giáo Việt Nam, lúc nào cũng hành động dựa trên căn bản giáo lý Đại thừa trong đó sự tồn tại và phát triễn của Phật giáo không đi ra ngoài sự tồn vong của đất nước và của dân tộc. Những mong cầu cho “lợi lạc quần sinh”, qua mơ ước “phong điều vũ thuận”, “quốc thới dân an”… là chủ đề chính trong các câu đối ở chính điện chùa Giác Lâm, để góp phần lớn đem lại cho các câu đối một giá trị lịch sử về mối quan hệ gắn bó giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian bản địa (thờ cúng Thần Nông, cầu mong mưa thuận gió hòa…) đồng thời cũng là một sự kiện cho thấy đặc điểm của Phật giáo Nam Bộ là một trong những bộ phận và đặc điểm của Phật giáo Đông Nam Á.

Bản thân các câu đối cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Trung Hoa ở Nam Bộ và ở Việt Nam nói chung vào thế kỷ XVIII và XIX cũng như mãi về sau này, nó chi phối tư tưởng về giáo lý, về lễ nghi và về phương pháp tu học qua nội dung các câu đối.

Câu đối còn giúp xác định được niên đại một số Trường hương, Trường kỳ khai mở tại chùa; nêu lên một số nhân vật quan trọng chủ trì trong các buổi lễ đó… Về mặt khoa học, bản thân các câu đối là một sử liệu quý giá về các giai đoạn lịch sử khác nhau, có lien quan đến con người, sự kiện, tổ chức hội Phật giáo…

Bản thân câu đối cũng thể hiện mối liên hệ, sự kết hợp về tư tưởng trong bản thân Phật giáo với Khổng giáo.

Ý NGHĨA VỀ GIÁO LÝ PHẬT GIÁO THỂ HIỆN QUA NỘI DUNG CÁC CÂU ĐỐI : Nhìn lại toàn bộ nội dung các câu đối lưu trữ tại chùa Giác Lâm, ngoài tinh thần Phật học, giáo lý căn bản thể hiện cung cách, oai nghi, phẩm hạnh cũng như những câu khuyên nhủ, ca tụng cuộc sống thiền, thanh tịnh, người ta còn thấy ngay trong phạm vi thuộc khu vực chính điện, 16 câu đối này cũng đã thể hiện đầy đủ tinh thần của 5 bộ kinh căn bản của Phật giáo. Các bộ kinh này là biểu hiện cho 5 thời thuyết pháp của Phật Thích Ca trong 49 năm, gồm có : thời Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã và Pháp Hoa-Niết Bàn.

Tinh thần này được thể hiện theo trình tự từ nhà tổ lên chính điện (vì theo nghi thức cúng lễ, trước khi lễ Phật phải lễ tổ).

Tinh thần Hoa Nghiêm : thể hiện trên các câu đối tại nhà tổ, với tam thân viên hiễn, Phật thừa là tối thượng.

Tinh thần A Hàm : thấm nhuần lời Phật dạy, trong cuộc sống thực tế.

Phương Đẳng : chỉ rõ tâm tánh phàm phu tu thành Phật đạo, đưa hang nhị thừa lên nhất thừa.

Bát Nhã : khai thị trí huệ giải thoát.

Pháp Hoa - Niết Bàn : khuyên giữ giới luật khai mở Phật tính của mình.

 

VII. ĐỒ THỜ PHÁP KHÍ

1.Bàn thờ :

Trong chùa có tất cả 45 bàn thờ, đa số đều được tạo tá tại chùa, vào đầu thế kỷ XIX, được làm bằng cây gõ (bàn Phật) và cây thau lau (bàn vong). Trừ một số ít bàn vong không chạm khắc hoa văn, tất cà các bàn khác đều có bao lam bàn thờ.

Các bàn thờ này là những hiện vật quý, có giá trị về mặt lịch sử, cung cấp cho nhà nghiên cứu nhiều kiểu loại hiện vật phong phú về kiểu dáng chạm khắc. có thể kể đến hang chục kiểu loại khác nhau :

  • Loại ô hộc, không có bao lam, không có hoa văn.
  • Loại  có hoa văn, hai chân trước kiểu chân sư, hai chân sau vuông.
  • Loại 4 chân sư ( thường là bàn vong).
  • Loại không có tầng.
  • Loại nhị cấp (2 tầng)
  • Loại tam cấp (3 tầng)
  • Loại có hoa văn tròn sát mặt bàn, viền ba cánh ngoài.
  • Loại có hoa văn hình hoa mai viền cách khoảng đều nhau quanh bao lam bàn thờ.
  • Loại 4 chân là chân sư. Đầu 4 cạnh đều có hoa văn đầu lân, có bao lam dài xuống đến chân bàn.

 Ngoài số bàn thờ được tạo vào đầu thế kỷXIX, trong chùa còn có một số ít bàn thờ được tạo tác vào những ngày đầu lập chùa. Đó là những bàn đặt tại nhà trai hiện nay. trước đây do nới rộng diện tích chính điện, các bàn này đã trở nên quá nhỏ, không phù hợp với chính điện mới. kích thước và phong cách tạc đơn giản của số ít bàn này đã giúp chúng ta hình dung về bối cảnh của ngôi chùa Cẩm Đệm xưa kia. Bàn có chiều dài 1,1m, ngang 0,9m và cao 2,1m, không chạm khắc hoa văn, hiện đang đặt bộ tượng Di Đà tam tôn tại nhà trai là bàn được đặt tại chính điện trước đây.

  1. Ván gõ

  Toàn chùa có 15 bộ ván gõ. Đây cũng là những di vật quý giá còn lưu lại, đánh dấu những giai đoạn phát triển rực rỡ, quy tụ hàng trăm, hàng ngàn tăng sĩ, Phật tử đến chùa trong những ngày lễ hội. những bộ ván gõ này mang nhiều chức năng khác nhau, vừa là  nơi đơm đồ cúng, bắt mâm, nơi đãi ăn sau khi cúng và là chỗ ngã lưng tạm của Phật tử. Với bề dày gỗ đến gần một tấc, có những bộ dài đến 6m, chiều ngang gần 2m. những bộ ván này cũng có niên đại thuộc thế kỷ XIX( xem bài tổng kết kích thước ở phần phụ lục).

  1. Tợ

Là  những bàn nhỏ, chân thấp, đặt lên bộ ván để các vị cao tăng ngồi thọ trai trong những lễ hội lớn. kích thước đồng nhất cho tợ trong chùa, có chiều dài 1,24m, ngang 0,60m và cao 2,25m.

4.Bài vị

Bài vị là những mảnh gỗ,  tạc nhiều dạng khác nhau, có chân đế, dung ghi tên người chết, năm sinh, năm mất để thờ tự. Đặc biệt đối với các tu sĩ,  còn cho biết tên dòng phái,tên huý, thế hệ truyền thừa, chức vụ  (trụ trì),  pháp danh, ngày, giờ, năm sinh và thị tịch (mất).

Là ngôi chùa cổ và là đại già lam nhiều thế kỷ qua,  chùa Giác Lâm cũng là nơi lưu giữ nhiều bài vị của tu sĩ, Phật tử hơn hai thế kỷ, và do đó cũng là nơi tập trung thể hiện phong phú, đa dạng nhiều kiểu loại bài vị…; góp phần giới thiệu một mảng của văn hoá Phật giáo, đặc biệt là trên lĩnh vực thờ tự và nghi lễ.

Hàng nghìn bài vị được đặt thờ trên bàn tổ, bàn vong, giới thiệu nét đa dạng trong chạm khắc gỗ, cho thấy nhiều nét tiêu biểu của bài vị theo từng thời gian lịch sử. có thể thấy sự chuyển biến trong nội dung chạm khắc cũng như hình dáng bài vị từ các dạng chữ nhật đơn giản, có chiều cao vừa phải, phù hợp với kích thước của bàn thờ và không gian thờ tự, đã có sự chuyển biến dần đến những chạm lộng hoa văn nhiều kiểu, từ giữa và cuối thế kỷ XIX  trên bàn thờ tổ chùa Giác Lâm có long vị ( bài vị chạm rồng). do tính chất quan trọng của ngôi chùa xưa, nhiều dòng họ có tiếng cũng được đặt thờ tại chùa, như dòng họ Quách, có bài vị lớn nhất tại bàn thờ vong và có gắn ảnh vào bài vị. có thể kể một số kiểu bài vị Tổ tiêu biểu trong số 15 bài vị được đặt trên bàn thờ tổ:

  • Bài vị hình chữ nhật, chân đế hình hộp chữ nhật.
  • Bài vị hình chữ nhật, chân đế hình hộp chữ nhật nhưng cả hai có chạm nổi rồng, trái châu (bài vị) và đầy hoa lá (đế).
  • Bài vị hình chữ nhật, có chạm rồng xung quanh, chân đế dạng chân quỳ, có trang trí hoa văn hoa lá.
  • Bài vị hình chữ nhật, trên có mái hình tròn, đế hình hộp chữ nhật, chân quỳ, xung quanh bài vị chạm dạng tia lửa.
  • Bài vị hình chữ nhật, hai bên có điểm trang trí hoa lá, trên có mái dạng ôvan, bệ hình lục giác, chân quỳ.
  • Bài vị hình chữ nhật, hai bên chạm hoa văn rồng quấn, có mái dạng đầu rồng hình ôvan, bệ cao hình hộp vuông, phần trên và phần dưới hộp loe ra.
  • Bài vị hình chữ nhật, có điểm hai bên, có mái đầu rồng phía trên, bệ gồm có nhiều hình chữ nhật chồng lên nhau ( khác biệt về kích cỡ).

Nội dung chữ hán trên bài vị lưu lại tên pháp danh, đặc biệt là tên huý cho thế hệ sau, vì thông lệ khi còn sống, tên huý ít khi được sử dụng. bài vị cũng góp phần vào việc duy trì các dòng tổ, thế hệ truyền thừa, ngày và năm sinh, năm mất của các thiền sư, trên cơ sở đó giúp các nhà khoa học phát triển them về tên gọi của các vị thiền sư, vì lý do đặc biệt, đã sử dụng Pháp hiệu, như trường hợp Thiền sư Tiên Giác Hải Tịnh, trong 20 năm hành đạo ở Huế, đã dung Pháp hiệu Tế Giác Quảng Châu.

Vào thế kỷ XVIII, XIX, bài vị có nội dung đơn giản, không ghi năm sinh, năm mất, ngày, giờ. Cuối thế kỷ XIX đến nay, bài vị có nội dung phong phú hơn, với chạm khắc, trang trí tinh tế và them nhiều yếu tố cho biết đó là vị trụ trì chùa, như bài vị của tổ Hải Tịnh khá tiêu biểu cho sự phát triễn về nội dung trong một bài vị :

“Giác Lâm đường thượng, Lâm Tế gia phổ, tam thập thất thế, thượng Hải hạ Tịnh, húy Tiên Giác đại lão Hòa thượng giác linh miêu tọa chi vị. Sanh ư mậu thân niên, ngũ ngoạt, tam thập nhất chú sanh, vãng ư Ất Hợi niên, thập nhất ngoạt, sơ bát nhật thị tịch”.

Tạm dịch : Bài vị của đại lão Hòa thượng trụ trì chùa Giác Lâm, thuộc đời thứ 37, dòng Lâm Tế gia phổ, pháp danh Hải Tịnh, huý Tiên Giác. Sanh ngày 30 tháng 05 năm Mậu Thân. Chết ngày 8 tháng 11 năm Ất Hợi.

Phần ảnh các kiểu loại bài vị và phiên âm các nội dung bài vị Tổ được ghi chi tiết ở phần phụ lục sách này.

5.Pháp khí :

Một trong những đóng góp có giá trị vào di tích lịch sử-văn hóa chùa Giác Lâm ngày nay chính là những pháp khí trong chùa. Từ những phương tiện dung sử dụng trong nghi lễ, các pháp khí còn là những dấu ấn về sinh hoạt Phật giáo tại vùng đất Gia Định xưa. Có nhiều kiểu loại và mỗi loại còn có nhiều hình dáng, chất liệu khác nhau, góp phần mang lại nét mới mẽ, sinh động cho văn hoá Phật giáo ở Gia Định; làm rõ them tính lịch sử, tính dân tộc, tính địa phương.

Đa số pháp khí trong chùa được sử dụng từ thế kỷ XVIII đến nay vẫn còn lưu giữ như mõ bằng gốc tre, có cán cầm, sử dụng khi cúng cầu an, đặt lên đầu Phật tử, hoặc các loại mõ làm bằng sừng trâu, bằng cây mù u… các loại pháp khí thuộc bộ gõ khác như tum, đẩu, trống, đồng la, chung, đại hồng chung, chuông gia trì, thủ lư, thủ xích, bê, tích trượng… là những pháp khí xưa, các chùa cổ mới còn sử dụng.

Đại hồng chung thuộc chùa được đúc vào năm 1894, bằng đồng, có đường kính 58cm. Mặt chuông cho biết được làm vào tháng 2 năm Giáp Ngọ, do Hòa thượng Minh Vi chứng minh và đệ tử Diệu Đạo, pháp danh Như Doanh, tự là Diệu Sùng phụng cúng.

Đặc biệt các lư hương trong chùa (33 cái) thuộc loại lớn, trung và nhỏ, đều bằng đồng và mặt trước lư có khắc nổi ba chữ Hán… “Giác Lâm tự”, mặt sau có ba chữ “Giác Viên tự”.
                                                                                                        Tiến Sĩ Trần Hồng Liên

Quay lại Share Tweet This Google
Ý kiến: 0 | 9825 Lên đầu trang

Địa chỉ: 565 ( số cũ 118 ) Lạc Long Quân, Phường 10, Quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh,  Điện thoại: 84.8.8 653 933

Email: giaclamtodinh@gmail.com - thichtriduc@yahoo.com, Website: www.chuagiaclam.net- www.todinhgiaclam.net